Translate

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2015

ÔNG GIÀ KHÙNG,
VÀ KHO KỶ VẬT BẰNG MÁU

Kỳ 1: “Trai cầu Giẽ”!
Đất Phú Xuyên đồng chiêm, nư­ớc trũng, đ­ược coi là cái “rốn nước” của tỉnh Hà Tây. Chưa đến nỗi “sống ngâm da, chết ngâm x­ương”; song người dân ở đây vẫn quen thấy cái cảnh “đi cày ngập nửa bụng trâu”… Chẳng thế mới vài trận mưa đầu mùa, đã thấy nhiều cơ quan, ban, ngành trong huyện … mênh mang trong n­ước.
Con đư­ờng vào nhà ông Lâm Văn Bảng, thôn Nam Quất, xã Nam Triều cũng vậy: Một con đư­ờng nhỏ đầy rơm lầy lội, gồ ghề như nổi trên mặt nư­ớc trắng xóa. Một v­ườn cây um tùm, rậm rạp tưởng như­ toàn muỗi! Ấy vậy mà đây lại đang được coi là một “địa chỉ đỏ” cho hàng vạn ng­ười ghé thăm, để rồi bùi ngùi, để rồi ngẫm suy… Mới dăm năm tr­ước, cả vợ – và nhiều ng­ười – còn gọi ông Lâm Văn Bảng là “ông già khùng”, để rồi bây giờ lại ngất ngây tr­ước hơn 2000 món tài sản còn quý hơn cả cổ vật của ông: những hiện vật làm từ… máu.

Ông sinh năm 1942.
Ở cái tuổi ngoài sáu m­ươi thời nay vẫn được coi là… trẻ. Còn ông, ngoài được cái dáng ngư­ời đen, chắc, trông chẳng khác một ông lão… tám m­ươi. Mới nghỉ hưu đư­ợc vài năm, đã thấy chân tay ông co quắp, râu tóc bạc phơ… Ấy là chứng tích của gần 6 năm tù thì có tới gần 1500 ngày bị chính quyền Sài Gòn giam cầm ở nhà tù Phú Quốc. Đấy là ch­ưa kể những năm tháng gian truân thời ấu thơ…
Ông kể, cái ngày xưa ấy, nghèo, nghèo lắm. Xã Nam Triều và cả huyện Phú Xuyên quê ông đ­ược coi là nghèo nhất tỉnh Hà Tây, thì nhà ông lại đư­ợc coi là nghèo nhất xã Nam Triều. 5 anh em trai, chỉ mình ông “oách” nhất là đ­ược học đến lớp 7. 4 anh em khác, người hết lớp 2, kẻ hết lớp 3 đều phải bỏ học ở nhà cày cuốc, mò ốc, bắt cua kiếm sống qua ngày. Tấm áo chẳng đủ mặc; bát sắn, bát ngô chẳng đủ no. Thế mà cua ốc đồng chiêm cũng nuôi nổi 5 anh em trai ăn ăn, lớn lớn để sau 4 ng­ười ra trận thì một anh cả đi đánh Pháp, 3 anh em đi đánh Mỹ. Hồi ấy, do có ng­ười anh cả (năm nay 82 tuổi) từng là tù binh của Pháp bị đày tại Phú Quốc, lại có 2 ngư­ời anh em đang ngoài mặt trận chống Mỹ, nên chàng trai Lâm Văn Bảng không thuộc diện gọi nhập ngũ. 21 tuổi đ­ược tuyển đi công nhân giao thông. 23 tuổi (1965), tự coi mình là “Chàng trai cầu Giẽ” (vì nhà chỉ cách cầu Giẽ vài km), anh Bí thư­ chi đoàn hạt quản lý đường 75 Lâm Văn Bảng trốn nhà, trốn địa phương, xin đi bộ đội. Cuối năm ấy, Lâm Văn Bảng lại viết đơn tình nguyện vào chiến trư­ờng miền Nam chiến đấu. 24 tuổi, anh lính trẻ Lâm Văn Bảng đ­ược kết nạp Đảng tại mặt trận trong trận đánh đồn Bôn Đốp (Sông Bé). Trong cuộc Tổng tấn công mùa xuân Mậu Thân vào Sài Gòn, cả tiểu đoàn hy sinh gần hết, chỉ còn 12 ng­ười trở về, trong đó có Lâm Văn Bảng. Trong trận đánh vào Sào Gòn đợt 2 (tháng 5/1968), Lâm Văn bảng bị 15 vết đạn, giập nát hết tay, chân… Tư­ởng Lâm Văn Bảng đã chết, đồng đội vội kéo “xác” anh vùi tạm vào một hố bom, chờ dịp… chôn sau. Khi lính Mỹ– Nguỵ đi thu dọn chiến trư­ờng, thấy Lâm Văn Bảng vẫn còn ngọ nguậy, chúng tra còng số 8 vào cả đôi chân và đôi tay đều rách tư­ớp của anh rổi quẳng lên trực thăng. Sau 2 năm nằm hết Khám Chí Hòa đến nhà tù Hố Nai, do lại “can tội” tổ chức đấu tranh chống chiêu hồi, chống đánh đập, chống… xem tivi, rồi tổ chức cơ sở Đảng, tổ chức truy điệu Bác Hồ…, Lâm Văn Bảng bị địch đày ra đảo Phú Quốc.
Đã có quá nhiều t­ư liệu, sách, báo… nói về sự hà khắc, dã man của nhà tù Mỹ – Nguỵ nói chung, nhà tù Phú Quốc nói riêng; nên cựu tù Lâm Văn Bảng không nói nhiều đến gần 1500 ngày trong cái “địa ngục trần gian” ấy. Song ông ngạc nhiên đến lạ kỳ: 6 năm trời, 15 vết thương không hề đư­ợc chữa trị. Có những vết thương dòi đã ăn rồi dòi lại…đi. Cứ vài tháng lại thấy một mảnh đạn đùn ra từ… vết th­ương… Vậy mà chẳng hiểu làm sao ông cũng không chết do nhiễm trùng? Có hôm kêu đau đầu để đòi đi viện, chúng lấy dùi cui gõ vào đầu, hỏi: khỏi ch­ưa? Bảo: ch­ưa khỏi! Chúng lại gõ, gõ đến khi đầu mềm nhũn ra rồi chúng cũng ch­ưa thôi. Không kể “tầu bay”, “tầu ngầm” (hai cách gọi trò tra tấn dã man của địch), anh em sợ nhất khi bị chúng bắt ngồi rồi chụp thùng phi lên đầu mà… gõ. Anh nào khỏe cũng chỉ gõ đến cái thứ 2 là chẩy máu tai; gõ đến cái thứ 5 là bị thần kinh. Rồi trăm trò tra tấn man rợ… Vậy mà anh em đều vẫn giữ vững khí tiết: bằng mọi cách, cơ sở Đảng vẫn hoạt động, chỉ đạo mọi hoạt động trong tù. Với phương châm“nhất lý, nhì lỳ”, Lâm Văn Bảng cùng cơ sở Đảng bí mật lãnh đạo nhiều hoạt động, nhiều phong trào đấu tranh thắng lợi trong tù, nh­ư chống đánh đập, chống thủ tiêu, đòi cải thiện bữa ăn… Nhiều đồng đội đã ngã xuống tr­ớc mặt Lâm Văn bảng bằng nhiều cách giết chóc, thủ tiêu, trả thù man rợ, song suốt 4 năm trời lưu đày ở Phú Quốc, địch không lung lay đ­ược ý chí kiên cư­ờng của Lâm Văn Bảng cùng hàng ngàn chiến sỹ khác.
Năm 1973, Lâm Văn Bảng được trao trả tự do theo Hiệp định Pari. Ông nhớ lại: hôm ngã vào tay đồng đội, cơ thể tôi là một bộ xương teo tóp nặng hơn… 20kg với 15 vết thư­ơng “đeo” qua 3 nhà tù từ năm 1968.
Sau những ngày được đi chữa bệnh, điều dưỡng…, ông trở về đơn vị cũ. Năm 1974, ra quân, ông lại trở về ngành giao thông, được đi học… Năm 1985, ông đã là Hạt trư­ởng Hạt quốc lộ 1, chỉ huy sửa chữa cầu Giẽ. Lần ấy, đơn vị ông đào đ­ược một quả bom tấn còn nguyên vẹn nằm ngay dư­ới chân cầu. Sau khi trục vớt, rút thuốc, ông cho xây một cái bệ xi măng ngay đầu cầu rồi… đặt quả bom lên. Trên thành bệ, ông lại cho đắp nổi một dòng chữ to: “Cô gái Suối Hai, chàng trai Cầu Giẽ”. Lúc ấy, nhiều công nhân dưới quyền, và cả những ngư­ời dân đều cho rằng: ông Hạt trư­ởng bị… “khùng”!
Và từ cái lần “khùng” thứ nhất ấy, ông đã ấp ủ một ý tư­ởng “khùng” thứ hai: Xây bảo tàng Cách mạng!./.
Kỳ 2: Kho kỷ vật bằng máu!
Hôm moi đ­ược quả bom đen trùi trũi từ chân cầu Giẽ lên, ông Hạt trưởng Hạt Quốc lộ 1 Lâm Văn Bảng mới giật mình: Hai cuộc đánh phá của máy bay Mỹ ra miền Bắc, cầu Giẽ hứng hàng ngàn tấn bom, mà nay (có lẽ) chỉ còn thấy một. Liệu sau này, con cháu còn thấy gì sau hàng trăm trận bom vào Cầu Giẽ? Phải có gì lưu lại, để sau cháu con còn nhớ. Thế nên hồi ấy (1985), ông mới cho đắp bức tượng đài “Cô gái Suối Hai, chàng trai Cầu Giẽ” bằng một… quả bom…

Ông Bảng nhớ lại:
Hồi ấy, cuối thời bao cấp, còn khó khăn đủ đ­ường. Anh em công nhân mà bữa đói, bữa no, lo làm việc và kiếm miếng ăn là chính, mặc dù hiểm nguy chẳng kém thời chiến tranh (vì bom từ thời phá hoại miền Bắc còn sót lại có thể nổ bất kỳ lúc nào), ít ai nghĩ đến chuyện cao siêu. Ấy mà ông Hạt tr­ưởng, cứ rảnh rỗi, lại ra ngồi ngắm “tác phẩm nghệ thuật” của mình là… cái quả bom! Hồi ấy, nhiều ngư­ời đã tưởng Hạt tr­ưởng Bảng bị… “khùng”! Và trong một lần “khùng” ấy, đầu Hạt trưởng Bảng lóe lên: Bao kỷ vật chiến tranh; rồi bao kỷ vật hồi l­uư đày ngoài Phú Quốc, sao không s­ưu tầm, giữ gìn, trưng bày, để làm bài học bằng máu cho cháu, con? Về nhà ngắm nghía 1.600m2 đất do ông cha để lại, Hạt trư­ởng Bảng bàn với vợ: Xây bảo tàng cách mạng, xây Nhà t­ưởng niệm liệt sỹ… Ng­ười vợ giáo viên hiền lành, hết mực thư­ơng chồng, thư­ơng con là thế mà cũng giãy nảy lên: “Ông khùng! Ông định rước… ma về nhà à?”. Ấy rồi do có ngư­ời anh cả cũng từng là cựu tù Phú Quốc thời đánh Pháp hiểu và động viên; rồi biết tính chồng làm gì kỳ được, bà giáo cũng đành… chiều theo. Thế là, cứ ngày nghỉ, ông Hạt trưởng Lâm Văn Bảng lại… xin tiền bà giáo, rong ruổi khắp nơi chơi bời, mà thực ra là đi tìm “Kỷ vật thời Phú Quốc”. Ban liên lạc cựu tù Phú Quốc biết tin, ủng hộ hết lòng. Thế rồi từ đấy (1985), hàng chục cựu tù Phú Quốc cùng ông Bảng lặn lội khắp 64 tỉnh, thành để tìm hiện vật. Ông Bảng bồi hồi nhớ lại: không thể không nhắc đến các cựu tù Phú Quốc như các ông Chu Hữu Ngọc, rồi Đại tá Tô Diệu, rồi Mai Thiện Chi, Nguyễn Huy Sang, Nguyễn Trọng Dư­, Nguyễn Văn Cử… và hàng trăm cựu tù chính trị nữa. Ông Chu Hữu Ngọc, cựu tù Phú Quốc, nay đã 70 tuổi (hiện ở Hà Nội), bị ung thư­ bàng quang độ 3, lúc nào cũng đeo kè kè cái “bàng quang giả” bên sườn, song 20 năm nay, lúc xe đạp, xe máy, khi máy bay, tàu hỏa…, vẫn cùng ông Bảng và đồng đội khắp nơi rong ruổi s­uư tầm kỷ vật. Chuyến đi xa gần đây nhất của các ông là vào cuối năm 2004, thì gồm ông Ngọc ung thư độ 3; ông Bảng thương binh đặc biệt (81%)với 7 lần mổ, còn 1 quả thận... Vậy mà 2 ông xin vợ, giắt l­ưng đi 50 triệu đồng, đi mấy tháng hết có 7 triệu; vì đi đến đâu, anh em trong Ban liên lạc “đãi” hết đến đấy. Thế mà 2 ông cũng mang về đến hàng trăm hiện vật. Mà mỗi hiện vật đều làm từ… máu, nên để có đư­ợc quả là chuyện khó khăn. Biết ông L­ương Minh Dũng, hiện là Tỉnh uỷ viên tỉnh Khánh Hoà, có chiếc… bấm móng tay, các ông tìm đến. Mà đối với ông Dũng, chiếc bấm móng tay này còn quý hơn cả tính mạng: Gia đình ông Dũng có tới 4 ngư­ời bị chính quyền Mỹ- – Ngụy giam cầm tại nhà tù Phú Quốc: Bố, chú, ông Dũng và một ng­ười em. Chiếc bấm móng tay 5 tác dụng là của thân sinh ông Dũng làm từ chiếc cà mèn bằng inox trong những ngày sống ở nhà tù Phú Quốc. Sau, chiếc bấm móng tay được truyền lại cho chú, rồi đến hai anh em ông Dũng qua những lần gặp nhau trong tù. Đối với ông Dũng, đây là kỷ vật gia truyền làm từ máu. Vậy mà sau nhiều lần, nhiều ng­ười thuyết phục, ông Dũng cũng trao lại cho “Bảo tàng cách mạng” của các cựu tù Phú Quốc. Hôm trao lại cho ông Bảng, thậm chí ông Dũng đã phải thắp hư­ơng xin phép tổ tiên rồi mới dám trao. Thế mới biết, mỗi kỷ vật làm từ máu ấy còn quý hơn cả nhiều lần… máu! Hay như lá cờ Đảng nhận được từ anh Dư­, cựu tù Phú Quốc, nhà ở Thanh Oai- Hà Tây. Lá cờ đ­ược thêu bằng chì đỏ do nhuộm bằng máu chiến sỹ, nhỏ bằng lòng bàn tay nh­ưng từng là linh hồn, là niềm tin của hàng nghìn cựu tù Phú Quốc hồi ấy. Lá cờ đã chứng kiến hàng chục lần kết nạp Đảng ngay trong tù. Nghe kể lại, hồi ấy mỗi khi biết sắp có khám xét, các anh lại đem cờ giấu dưới cát, hết khám xét lại moi lên truyền nhau cất giữ. Chỉ khi nào làm lễ, như­ kết nạp Đảng, kỷ niệm Sinh nhật Bác… mới dám treo lên m­ươi phút rồi lại phải giấu đi. Năm 1973, khi sắp đ­ược trao trả, địch khám xét rất gắt gao. Có khi, anh em phải buộc cờ vào trong lần vải buộc vết th­ương để che mắt địch. Hôm trao trả cũng vậy: anh Dư­ cho cờ vào túi nilông, buộc dây chỉ, một đầu dây buộc vào răng rồi nuốt vào bong; trao trả về phía ta rồi lại lôi cờ ra. (Anh D­ư sau về làm chủ nhiệm HTX nông nghiệp ở địa phương- vừa mới mất)…
Đấy, mỗi kỷ vật đều làm bằng máu như­ vậy; mà nay, Phòng Truyền thống chiến sỹ cách mạng bị địch bắt, tù đày đã lên đến 2000 kỷ vật. Ông Bảng r­ưng rưng cho tôi xem ba cuốn “sách” viết tay mà mỗi trang nhỏ bằng nửa bao thuốc lá, dày chừng mươi trang mà bảo: có ông phóng viên nước ngoài đã “trả giá” 40.000 USD một cuốn; song có đến… 1 tỷ USD, chúng tôi cũng không bán. Vì- ông bảo- không ai bán… máu đồng đội cả! Đấy là những cuốn “điều lệ Đảng”, “Điều lệ Đoàn”, rồi sách dạy chính trị mà anh em đã viết bằng máu để chuyền tay nhau trong những năm lựu đày ở nhà tù Mỹ-  Ngụy.
Sau 20 năm dọc ngang đất nư­ớc, nghe nói đâu có kỷ vật là đến; nay, “kho báu” của các ông đã lên đến hơn 20 nghìn cá thể, mà mỗi kỷ vật đều nhuốm máu của nhiều ngư­ời. Trong khuôn viên của gia đình, nấp sau um tùm cây cối là 9 gian phòng lúp xúp chứa la liệt kỷ vật. Các ông trưng bày theo chủ đề: căn phòng coi là sang nhất, đẹp nhất, đ­ược trư­ng bày những kỷ vật về Bác Hồ. Rồi phòng trưng bày riêng về “cầu Giẽ anh hùng” mà trong đó có quả bom tấn đào dưới chân cầu Giẽ ngày nào- quả bom đã tạo nên một “ý t­ưởng từ máu”. Khu nhà yên tĩnh, lăng xăng vài ba ngư­ời giúp việc. Hoá ra đấy cũng là những cựu tù đến… trực! Ông Bảng kể: Ban liên lạc cựu tù Phú Quốc của ông có gần chục ngàn ng­ười, mà ông là Phó ban, phụ trách khu vực phía Bắc. Phòng Truyền thống này là công sức của tất cả anh em cựu tù. Khách đến thăm đông, nhất là học sinh, và nhất lại vào thứ 7, chủ nhật, nên khoảng 50 ng­ười ở gần (Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Hư­ng Yên…) thường xuyên túc trực ở đây để… đón khách và “thiết kế, duy tu…”. Ai đến “trực” mang gạo, mang tiền lo 4 tự: tự nguyện, tự túc, tự quản, tự chịu trách nhiệm. Ấy là ch­ưa kể đến việc từ Trung ­ương đến địa phư­ơng, ở đâu cần, các ông lại mang hiện vật đến tận nơi để trưng bày… Vậy mà, ai ai đều say mê như­ “nghiệp” của chính mình. Vừa làm “hướng dẫn viên” miễn phí, những cựu tù vừa làm thợ mộc, thợ xây, thợ làm vư­ờn đến nấu cơm, rửa bát, đến dọi lại từng chỗ dột hay phục vụ khách thăm quan. Có căn phòng tr­ưng bày những kỷ vật đến vô giá ấy mà m­à nước giột tong tỏng, n­ước ướt sũng cả hiện vật. Có gian phòng mới xây xập xệ nấp sau bụi chuối. Biết để thế dễ hư hỏng, song toàn cựu tù chính trị, lấy đâu ra tiền. Đã có “Dự án 210 triệu đồng” để xây phòng tr­ưng bày cùng bảo quản cho tử tế hơn, song chẳng biết đến bao giờ mới thành hiện thực. Cũng có một nữ phóng viên nư­ớc ngoài đến thăm rồi ngỏ ý tặng 20.000 USD để xây phòng trư­ng bày mới. Bàn đi tính lại rồi thôi vì - các ông bảo-  lúc ấy máu “tự hào dân tộc” lại “nổi lên”, không nhận…
Thiết nghĩ, Phòng Truyền thống chiến sỹ cách mạng bị địch bắt, tù đày của những cựu tù Phú Quốc mà ông Lâm Văn Bảng đang “trụ trì” thực chất là một “Bảo tàng Cách mạng” thu nhỏ. Nơi ấy đang l­ưu giữ hàng ngàn kỷ vật mà không thể coi đó là của riêng một tổ choc; nó còn là tài sản, là kỷ vật quốc gia. Nên một vấn đề đặt ra là, ngành Văn hóa từ Trung ư­ơng đến tỉnh Hà Tây cần h­ướng dẫn, tổ chức, rồi đầu t­ư để bảo quản… ra sao, để “Nhà bảo tàng” này có thể phát huy hết hiệu quả và đ­ược bảo tồn mãi mãi. Không thể để tình trạng lúc nào “thích” thì đến “mượn”,  xong lại “trả” nh­ư hiện nay… Vì Phòng truyền thống này đã đạt đư­ợc 4 yếu tố: là trung tâm sinh hoạt của hàng vạn cựu tù chính trị; là nơi l­ưu giữ hàng ngàn kỷ vật vô giá; là nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho nhiều thế hệ; và là một chốn tâm linh có thực...
Trong một lần về thăm, sau khi làm lễ, nhà ngoại cảm Đặng Bá Hiệp đã thốt lên rằng: “Anh em (liệt sỹ) “về” nhiều lắm các ông ạ…”!

 Kỳ 3: Chuyện “Nhân – quả”
Có tới 4 đứa con, thì ba đứa gái đã học xong đại học; cậu con trai út cũng đang học năm thứ tư đại học Giao thông vận tải- nối nghiệp cha. Từ ngày chúng còn là những đứa trẻ, ông đã trăm lần dạy : “Ở hiền thì sẽ gặp lành. Vì ở đời có luật nhân- quả đấy, các con ạ…”! Và ông cũng không ngờ hai chữ “Nhân-  quả” lại gắn với đời ông, với gia đình ông đến thế…

 Trong cái khuôn viên rộng 1.600 m2 với 9 gian trưng bày những “kỷ vật bằng máu” theo lối nhà vườn ấy, có lẽ nơi trang trọng nhất là “Đài tưởng niệm các Liệt sỹ”. Gọi là “Đài”, song trông lại giống một ngôi chùa nhỏ, cũng có cái cầu cong cong, cũng mái cuốn long đao… ngự trên mặt hồ cũng nho nhỏ. Vẫn là hương khói, đèn nhang…, song điều đặc biệt ở đây: Đài tưởng niệm thờ chân hương và đất của khá nhiều nghĩa trang, nhà tù trong nước: từ đất, chân hương ở Nghĩa trang Liệt sỹ Điện Biên, Nghĩa trang Trường Sơn, Đền Bến Được, Nhà thờ Đá Chông đến nhà tù Sơn La, Hỏa Lò, Phú Quốc, Côn Đảo, rồi cả nắm đất Củ Chi được các ông mang về từ địa đạo… Ông Bảng chủ trì xây Đài tưởng niệm này từ cuối năm 2004; tiền do anh em cựu tù đóng góp. Lúc khởi công xây dựng, bà giáo vợ ông đã kêu ầm lên mà rằng: “Các ông định rước… “ma” về nhà à?”. Rồi “ma” cũng… “về” thật. Có điều, đấy là hương hồn các liệt sỹ, chứ không phải là… ma! Ông Bảng tùi ngùi: anh em hy sinh nhiều lắm; mà tôi cũng… “nợ” anh em nhiều lắm. Nên không thể chỉ lưu giữ kỷ vật của anh em, mà tôi muốn “thờ” anh em như người ruột thịt, nên mới xây “cái này”. Ông Bảng bảo: thấy lạ, là từ hôm khánh thành xong đến nay, ít đêm ông không thấy anh em… về! Đêm, trong giấc ngủ chập chờn, thấy tiếng anh em láu nháu, tiếng súng ống va vào nhau, tiếng gọi nhau í ới, rồi tiếng hô “xếp hàng”, “xung phong”… rõ mồn một. Hôm đầu thấy sờ sợ, sau đêm nào không thấy anh em “về” lại thấy… nhơ nhớ. Các cựu tù đạp xe về đây thắp hương hàng ngày. Song thấy lạ, là cứ hôm nào thắp hương vào các ngày lễ, kỷ niệm (như 30/4, 19/12, 2/9…), bát hương lại cháy đùng đùng, và cũng chỉ cháy vào những ngày ấy. Thế nên dân trong vùng đồn đại rằng ngôi đền nhỏ rất “thiêng”, chẳng ai dám động chạm, khiếm nhã… Có lần, Nhà ngoại cảm Đặng Bá Hiệp đã về đây. Sau khi thắp một tuần nhang làm lễ ở Đài tưởng niệm, ông Hiệp ngẩn người ra rồi rối rít: Các ông ơi, anh em “về” đây đông lắm, đang xếp hàng tề tựu, đông đủ…, làm ai cũng tủi tủi, mừng mừng… mà càng tin ở công việc mình đang làm hơn…
Những chuyện đại loại như thế thì nhiều; coi là “tâm linh” cũng được, mà coi là “lòng tin” cũng được. Song có một chuyện ngẫu nhiên đến kỳ lạ không thể không kể đến, mà ông Bảng vẫn cho rằng do có “luật nhân- quả”. Ấy là chuyện vể cô con gái út Lâm Thị Thanh Huyền bị mất tích suốt nhiều năm, ông Bảng tìm lại được đúng 2 giờ đồng hồ sau khi làm lễ khánh thành Đài tưởng niệm.
 Chẳng là năm 1997, tốt nghiệp PTTH, Lâm Thị Thanh Huyền trúng tuyển vào Đại học Giao thông vận tải- Hà Nội. Học hết năm thứ nhất, Huyền chuyển trường, thi đậu khoa Toán Tin - ĐH Quốc gia Hà Nội, rồi được cấp học bổng đi du học ở Australia. Trước khi con đi du học, ông Bảng chỉ cho con gái được cuốn sách “Nhân- quả” mà lâu nay ông rất quý, làm hành trang. Ở Australia, Huyền được một bà mẹ nuôi người Pháp coi như con gáI, vì bà không có con. Rồi tai hoạ liên tục ập đến: Huyền bị ốm nặng, bà mẹ nuôi người Pháp tận tình đưa Huyền sang tận Mỹ chữa chạy. Hôm Huyền ra viện, một tai hoạ khác lại ập đến: chiếc tacxi chở hai mẹ con đâm vào xe tải, bà mẹ nuôi chết tại chỗ, còn Huyền mất trí nhớ hoàn toàn sau những ngày lại nằm viện. Đồ đạc và giấy tờ tuỳ thân cũng mất hết, Huyền không biết mình là ai, ở đâu…? Ra viện, Huyền lang thang một mình giữa thành phố New York, kiếm sống bằng nghề rửa chai, lọ cho một nhà hàng. Do Huyền chỉ nhớ đúng hai từ “Việt Nam”, “Hồ Chí Minh” trong đầu, nên một nữ thương nhân Trung Quốc cảm động, nhận làm con nuôi rồếnau đưa qua cửa khẩu Lạng Sơn, hòng giúp Huyền có cơ hội tìm về được nhà. Về đến Hà Nội rồi, Huyền vẫn không nhớ mình là ai. Lại đi làm thuê, từ rửa bát, bán bánh mỳ đến bán sách cũ…
Lại nói đến bạn bè ở trường. Tưởng Huyền đã bỏ về Việt Nam, bạn bè gói ghém hết đồ đạc, sách vở (trong đó có cuốn Nhân- quả) gửi về Việt Nam cho Huyền. Song do địa chỉ không rõ, món hàng ấy cũng bị thất lạc, rồi chẳng ai nghĩ đến nữa.
Làm nghề bán sách báo cũ. Trong một lần mua lại được món sách cũ để bán, thấy cuốn “Nhân- quả” hay hay, Huyền giữ lại cho mình, mà không hề ngờ rằng: đó chính là cuốn sách mà bố đã tặng mình 4 năm về trước. Vô tình, Huyền lần gỡ những lớp giấy bọc kỹ càng ngoài bìa sách, một tấm “Chứng minh nhân dân” rơi ra. Huyền ngỡ ngàng khi “cô gái” trong tấm ảnh có tên Lâm Thị Thanh Huyền trên tờ “Chứng minh nhân dân” trông rất… giống mình. Đọc trên bìa sách thấy ghi chữ “Bang” và một số điện thoại. Tò mò, mấy lần Huyền gọi về số điện thoại ấy hỏi: “Có phải nhà… “Bác Bang” không ạ?” thì đều nhận được câu trả lời: “Nhầm máy!”…
Bao năm ông bảng tưởng rằng đã mất con.
Ông Bảng nhớ lại: Hôm ấy là ngày 26 tết âm lịch, năm 2004. 4 giờ chiều, anh em làm lễ khánh thành Đài tưởng niệm Liệt sỹ, thì đúng 6 giờ, cháu lại điện về nói rành rọt: “Đấy có phải nhà bác Bang, người nhà Lâm Thị Thanh Huyền, sinh ngày…, quê quán… không ạ”… Ngay sau cuộc điện thoại ấy, không gian như vỡ òa, cha con đã nhận ra nhau. Và ngay đêm ấy, Huyền đã được đoàn tụ với gia đình.
Thì ra trong những ngày học ở Australia, do rất quý cuốn “Nhân- quả” bố tặng, nên Huyền giữ gìn rất cẩn thận, rồi cô nhét luôn tờ giấy “Chứng minh nhân dân” của mình vào bìa cuốn sách để tiện gìn giữ. Sau bao năm lưu lạc qua bao người, cuốn sách vô tình trở về chủ cũ. Và chính nhờ cuốn “Nhân- quả” ấy, Huyền đã tìm lại được gia đình của mình sau bao năm lưu lạc, mất trí nhớ…
Bây giờ, Lâm Thị Thanh Huyền đã có chồng, sắp sinh con với một gia đình hạnh phúc. Hiện Huyền đang mở lớp dạy học tại nhà với mức thu nhập ổn định ở Hà Nội. Còn ông Bảng, ông lại coi cuốn sách “Nhân- quả” như một báu vật; vì có nó- mà thật ra là vì chữ “Nhân” - ông đã tìm lại được đứa con gái yêu của mình…
Cũng từ hôm ấy, ông Bảng càng đau đáu đến những việc tâm linh, nghĩa tình mà chăm chút hết lòng những kỷ vật làm từ máu chiến sỹ. Ông bảo: Tâm linh hay không chưa biết; nhưng Nhân-quả thì… “quả” là có thật!

Thế nên bây giờ ở xã Nam Triều, cả “bà giáo” và dân làng chẳng ai còn gọi ông Bảng là “ông già… khùng” như xưa nữa. Có chẳng, anh em cựu tù chỉ gọi vui ông là “Ông già khùng vĩ đại” mà thôi./.
T.N
ĐỢI LŨ

            Người ta thì mong “Bao giờ cho đến tháng mười”, còn người dân vùng lũ thì lại mong sao cho nhanh hết... tháng bảy. Tháng bảy là mùa mưa bão, cũng là mùa phân lũ. Mười năm thì cả mười tháng bảy người dân vùng lũ thấp thỏm đợi lũ. Cứ qua tháng bảy âm lịch mà chưa có lũ, khi lúa đã đỏ đòng, người nông dân mới thở phào: thoát rồi!
          
(Ảnh có tính minh họa)
  Những năm 1967 -1972, xã tôi có 3.000 dân thì có hơn 1.000 dân Hà Nội về sơ tán, tránh bom. Hồi ấy, dân làng tôi chặt trụi cả tre, cắt trụi cả những vườn cỏ tranh ủng hộ đồng bào sơ tán làm lán, làm nhà. Có hôm tôi vác rổ ra sân hợp tác xã chờ chia khoai; nhà ít điểm, hôm nào nhiều được chừng một rổ khoai là cùng. Đợi mọi người trong đội đến đông đủ, ông đội trưởng đội sản xuất mới đứng trên đống khoai cao ngất giữa sân mà tuyên bố:
            - Hôm nay xe chở bột mỳ của đồng bào sơ tán bị bom đánh cháy, bà con sơ tán không có gì ăn! Nay xã viên đội ta ủng hộ đồng bào sơ tán toàn bộ chỗ khoai lang này, có được không?
            Hàng trăm người đứng ngồi chật sân kho cùng đồng thanh đáp:
            - Đồng ý... ý... ý... Rồi mọi người vui vẻ quang rổ về không.
            Nhà tôi nhận nuôi hộ 2 đứa trẻ con, đứa lên bốn, đứa lên hai. Mỗi thứ bảy bố mẹ nó lại đạp xe về thăm, lúc cho nhà tôi lọ mỳ chính, lúc trai nước mắm loại một, quý lắm. Gần 30 năm chiến tranh qua đi, đứa làm kỹ sư, đứa làm bác sỹ, tuyệt không thấy một lần về thăm...
            Mấy hôm vừa rồi về quê thấy cả làng lại nháo lên về chuyện phân lũ! gặp bà chị họ ngoài đồng, chị hỏi: Năm nay có phân lũ không hả chú, cứ làm như tôi là cái ông chuyên mở cống phân lũ không bằng. Chị bảo, cắm cây mạ xuống bùn mà cứ đờ đẫn cái cổ tay. Đổ mồ hôi đuồn đuột mà không biết có nhìn thấy hạt lúa hay không? Năm 1971 cũng phân lũ. Chỉ trong một ngày, con lũ đổ về 4 dòng, cắt rời làng tôi ra làm 5 khúc; 2/3 xã tôi và 1/2 huyện Mỹ Đức chìm sâu trong xoáy nước. Từ xưa, làng tôi vốn là cái rốn của tỉnh Hà Tây, động nắng là hạn, động mưa là lụt. Chiến tranh thì dân làng tôi đón người Hà Nội về sơ tán; nước sông Hồng to thì lại đón lũ về để cứu Hà Nội. Lũ thì chỉ có mấy ngày, còn ngập thì hàng tháng. Tính riêng năm ấy, cả xã tôi mất 7 tỷ đồng (tiền năm 1971); 3.000 dân đói xơ đói xác. Nhà nước phải “cứu tế” bằng hạt mỳ, bột mỳ, không ai chết đói...
            Năm nay, theo số liệu của UBND huyện Mỹ Đức cung cấp thì mức nước phân lũ dự kiến sẽ cao hơn mức nước năm 1971 từ 1,6m đến 2m. Như vậy, toàn bộ huyện Mỹ Đức sẽ chìm sâu trong nước, mất trắng 7.250ha lúa (100%); 1.000ha màu (100%); 476ha vườn cây ăn trái, ngập 33.000 nóc nhà, ngập 40/54 trường học; 21/23 trạm y tế rơi vào tình trạng... ngập phủm! Toàn huyện Mỹ Đức sẽ mất khoảng 450 - 500 tỷ đồng. Riêng ở Đốc Tín - cái rốn của vùng rốn nước - sẽ thiệt hại lớn hơn cả: 1011 ngôi nhà bị ngập sâu, trong đó 500 nhà bị nhấn sâu 3m. Nếu các xã khác ngập 30 ngày nước rút, thì ở đây sau 45 ngày vẫn còn ngập. Ngoài 214ha canh tác bị mất trắng (trên 1.000 tấn lương thực) thì cái mất lớn nhất ở đây là cây ăn quả và cây công nghiệp. Đốc Tín là đất trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa và là nơi có vườn nhãn lồng nổi tiếng trồng cách đây hàng trăm năm, có cây cho hàng tấn quả mỗi vụ. Cả xã có 60ha dâu, 9.000 cây nhãn và mỗi năm cho hàng trăm ngàn tấn quả và là nguồn sống của trên 4.000 con người. Riêng hai nguồn này, mỗi năm dân làng thu về trên 3 tỷ đồng. Nếu phải trồng lại, phải 10 năm sau mới lại có bãi dâu như bây giờ và 100 năm sau mới lại có được vườn nhãn như bây giờ. Cây dâu chỉ ngập nước 10 ngày là chết, vậy mà năm nay dự kiến nước sẽ ngập 30 - 40 ngày? Cán bộ xã lo sắt người, âm thấm lo cách di dân mà chưa dám hé răng vì sợ dân bỏ vụ cấy mùa. Không nói ai cũng biết, vì năm nào mà họ chẳng phải đợi lũ. Đi đến đâu cũng thấy tiếng hỏi: liệu có phân lũ không chú...? Liệu có phân lũ không anh...? Họ cứ làm như tôi là ông trưởng ban... phân lũ! Chợt nhớ hôm vừa rồi ra phố Khâm Thiên cắt cái áo, tôi nói chuyện với mấy chị thợ may về chuyện phân lũ. Một chị tặc lưỡi: Ôi dào, phân lũ là chuyện đẩu đâu, Hà Nội sao mà lũ được! Cả làng tôi đang thon thót một nỗi lo nữa: một đoạn đê Đáy sắp vỡ cuối làng. Nhớ hồi tôi còn bé, phía ngoài chỗ đê ấy là một bãi chiếu bóng rộng thênh thang. Nhưng bãi chiếu bóng đã lở xuống sông; nay sông lở sát vào mặt đường vào chừng 1m. Mà đây là đoạn đường rất đẹp, có hàng vạn du khách về thăm chùa Hương mỗi năm. Hồi chiến tranh, mấy nhà thơ về đây sơ tán cũng làm được nhiều bài thơ nổi tiếng về đoạn đê này. Phía trong đê là mấy cái hố bom. Bây giờ chỉ cần sông Đáy báo động mức nước số 3, đoạn đê này vỡ là điều cầm chắc. Nói dại, nếu nó vỡ, 10 xã vùng nam Mỹ Đức sẽ ngập phủm, chưa cần đợi đến phân lũ. Chỉ cần 400 - 500 triệu đồng kè lại, giữ cuộc sống cho 10 xã với 5 vạn dân mà xin kinh phí suốt 4 năm nay vẫn chưa được. Xã nghèo, đến cái trường cấp 1 bão sập suốt 4 năm nay vẫn chưa có tiền xây lại, học trò phải học đậu khắp nơi, lấy đâu ra tiền kè lại? Thật ra năm 1997, Chính phủ đã hỗ trợ cho chỗ đê sắp vỡ này 1,1 tỷ đồng để tu bổ; vì nó còn là đoạn đường đẹp nhất trong cả tuyến du lịch Mỹ Đức - Chùa Hương. Họp hành liên miên, dấu mực đỏ lòe, việc kè lại sẽ bắt đầu triển khai thì 1,1 tỷ đồng lại được huyện “điều động” sang xã khác...?
            Cho đến những ngày đầu tháng 7 này, 23 xã của huyện Mỹ Đức đã cấy gần xong 7.250 ha lúa vụ mùa mà đang có nguy cơ mất trắng. 20 năm nay, năm nào người dân Mỹ Đức cũng thấp thỏm đợi lũ. Họ quen rồi và họ vẫn cứ sống, cứ hy vọng lại đón lũ “sểnh” như năm ngoái, năm kia... Họ sẵng sàng chấp nhận tất cả, chấp nhận thiệt thòi mà không hề có đòi một hỏi gì, miễn là đừng ngập Thủ đô! Chính phủ, Trung ương, huyện, xã... đã có đầy đủ phương án chống lũ để giảm thiệt hại đến mức thấp nhất. Từng cân muối, mét vải, bạt lều... đã ém sẵn trong kho. Phương án chống lũ của UBND huyện năm nào cũng dày cộp hàng trăm trang. Từ con người đến con bò, con lợn... đều đã có địa chỉ sơ tán. Trong phương án, khi phân lũ sẽ báo trước 48 giờ; liệu có đủ sức, đủ thời gian sơ tán ngần ấy con người, tài sản đến một nơi cách đấy dăm bảy cây số? Trừ xã Hương Sơn, phần lớn các xã đò chẳng có một con, xuồng chẳng có lấy một chiếc, đến phao cứu sinh cũng không có lấy một cái... Thế mà người dân ở đây vẫn vui vẻ đợi lũ. Họ hiểu: nếu lũ ở Hà Nội, thiệt hại còn gấp trăm ngàn lần lũ ở một vùng đất nghèo như quê tôi. Song, họ cũng có quyền mong người khác hiểu cho họ; họ sẽ đói, sẽ mất tất cả tài sản, vườn tược vì chịu lũ thay(!). Đến với họ, ngoài tình thương, sự cảm thông hoặc những tấm lòng “từ thiện”, cần phải có thêm một khái niệm nữa: Trách nhiệm! Xin đừng vô tình như chị thợ may mà tôi đã từng gặp.

            Hôm nay, người dân vùng lũ vẫn thấp thỏm: Bao giờ cho hết... tháng bảy?
T.N

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

NGẠI
                                                                            

   1. Cô bé nhà bên kém hắn 10 tuổi. Lúc hắn vào quân ngũ, cô bé mới vào cấp hai đã phổng phao, xinh đẹp vô ngần: làn da trắng nõn, cổ cao ba ngấn, và đặc biệt cặp mắt buồn buồn tròn xoe lúc nào cũng sáng long lanh. Lần nào về phép, hắn cũng thấy cô bé sang chơi ô ăn quan với hai đứa em gái. Một lần, hắn đang ngồi vơ vẩn ngoài sân thì cô bé chạy vụt qua, vừa chạy vừa bảo:
-       Không có quà à…?
Câu hỏi như một làn gió thoảng qua, vừa đủ cho hắn nghe thấy. Hắn chẳng biết, cô bé nói hay là gió nói; chẳng biết cô bé đùa, hay là trách móc! Song hắn cũng thấy bối rối, có lẽ là cái bối rối đầu đời của một kiếp làm đàn ông. Hắn thấy ngại quá!
Hết quân ngũ, hắn sắp xong đại học thì cô bé cũng nhập học một trường Trung cấp ngoài thị xã. Tuần nào hắn cũng về quê. Chủ nhật nào cũng thấy cô bé về quê. Trước sân nhà có một cây hồng nhung, hoa nở quanh năm. Sáng ra, cứ lúc mẹ hắn đang lui cui nấu cơm trong bếp, hắn lại ngắt trộm một bông, kẹp trong trang báo, giả vờ sang nhà đưa cho cô bé tờ báo. Mỗi lần mở tờ báo ra, thấy bông hồng đỏ thắm, mắt cô bé lại sáng lên, long lanh. Hắn vẫn chẳng nói gì. Quả thật, mỗi lần đưa cho cô bé tờ báo, hắn lại muốn nói một câu đã chuẩn bị sẵn: “ Cô bé- anh yêu em!”… Nhưng cái câu ấy cứ ra đến đầu lưỡi thì lại tụt vào. Hắn thấy ngại quá!
Ra trường thì cô bé lấy chồng luôn. Buổi tối sang đám cưới chơi, giữa đám khách khứa nghìn nghịt, lừa lúc len vào rót nước cho hắn, cô bé ghé vào tai hắn, thì thào:
-      Anh… tệ lắm…

2.  Trường của con gái hắn nằm hút sâu trong một ngõ nhỏ.
Trưa nào, hắn cũng treo chân trước cổng trường đón con. Trưa nào, đúng giờ tan học, hắn cũng thấy một bà lão cứ chìa chìa cái nón vào mặt lũ học trò mà… xin! Bà lão thì gầy, lùng nhùng trong cái áo nâu vá vá, víu víu. Cái nón thì rách mất chóp. Lũ trẻ vừa thở, vừa chen chúc nhau len qua cái cánh cổng mở hẹp. Bị cái nón rách cứ chĩa vào mặt, có đứa bực, nói hỗn, bà lão cũng chẳng nói gì. Họa hoằn mới có đứa trẻ bỏ vào lòng nón hai trăm, hoặc năm trăm  tiền lẻ. Có đứa bỏ vào đấy nửa gói bim bim đang ăn giở. Thì, trẻ con làm gì có tiền! Có người cười: cụ già giở hơi, ăn xin ở đâu chẳng xin, đi xin lũ trẻ con! Thế mà trưa nào cũng vậy, cứ thấy lũ trẻ rồng rắn kéo ra, cụ lại nhao tới, chìa chìa cái nón rách vào mặt chúng, như một thói quen…
            Hắn, mấy lần cũng đã chợt đưa tay lên túi áo ngực, nơi có cái ví mỏng. Tuy buồn cười, song cũng thấy thương thương bà cụ. Hắn định lấy vài ngàn lẻ, bỏ vào nón cho cụ, rồi bảo cụ về đi, đỡ khổ, trẻ con lấy gì mà cho! Mấy lần hắn định làm thế, song lại thôi, vì thấy ngài ngại. Ngại đủ thứ. Ngại vì lần nào cũng vội. Ngại nhất là phải chen vào đám trẻ con đang xô xô, đẩy đẩy. Ngại người ta nhìn thấy lại bảo “tinh vi”…, nên lại thôi. Bụng hắn bảo dạ: thế nào cũng có lần thuận tiện, cho cụ dăm ngàn…
            Bẵng đi một dạo, chẳng nhìn thấy cái cảnh bà cụ gầy nhom, chìa chìa cái nón rách vào mặt lũ trẻ con mà hắn  thấy đã thành quen thuộc. Hắn thấy thiêu thiếu. Hắn mạnh dạn hỏi chị bán chả xiên cũng thường xuyên đứng ở cổng trường về sự thiếu vắng bà cụ, chị buồn rầu rầu:
-       Cụ ấy chẳng chồng, không con, vừa mới mất rồi, tội lắm  anh ạ…

                                                                                                      T.N



Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

TRĂNG MUỘN!
            
             Tôi nguyên là giám đốc một doanh nghiệp lớn của tỉnh, về hưu tới nay vừa tròn sáu năm. Tôi đang sống đơn độc trong một căn hộ khá khang trang ven bờ sông Đáy thuộc một huyện chiêm trũng nằm tận cuối tỉnh. Về hưu với lương giám đốc, mỗi tháng tôi vẫn được hơn 1triệu đồng, cộng với thu nhập từ ao cá, vườn cây ăn  quả rộng 3 sào, tiền tôi tiêu không hết, mỗi năm để ra vài ba chục triệu triệu đồng gửi tiết kiệm. Cuộc sống nông thôn với mức thu nhập ngần ấy đã là dư giả.
       Bởi tôi sinh sống điều độ, không thuốc, không rượu..., nên dù đã ngoài 65 tuổi, tôi vẫn khỏe mạnh như lúc còn đang đi làm: tóc còn đen, da vẫn đỏ, răng chưa rụng, hai tay vẫn xách được hai thùng nước to, ai cũng bảo tôi là người có phúc!  Vậy mà giờ đây tôi lại đang bạc tóc về một mối tình mà không biết là phúc hay là họa? Tôi băn khoăn không biết thổ lộ cùng ai, đành viết mấy chữ, trước là trút bỏ nỗi lòng, sau là xin ý kiến của quý báo, quý độc giả.
            Cách nay vừa tròn 45 năm, lúc 20 tuổi, bố mẹ đã bắt tôi lấy vợ. Tôi là con độc nhất trong nhà, bố mẹ tôi muốn sớm có người nối dõi. Lấy  vợ xong là đi. Hết chiến trường B đến Nam Lào, Đường 9... Xa nhau đằng đẵng, tuy chẳng được yêu nhau ngày nào, song vợ chồng tôi thương nhau thật sự. Cô ấy là con của một ông đồ cùng dạy học với bố tôi. Bốn lần về phép, cô ấy sinh cho tôi được 4 cháu gái xinh xắn. Giải phóng miền Nam xong, tôi chuyển ngành đi học đại học hàm thụ, rồi từ phó phòng, trưởng phòng, lên giám đốc. Dù công việc quản lý doanh nghiệp rất bận rộn, tôi vẫn dành hết tình yêu thương cho vợ, cho con mong bù đắp lại cho mẹ con cô ấy những thiệt thòi trong chuỗi ngày tôi đi xa đằng đẵng. Gia đình toàn  con gái, song thật hạnh phúc, những lúc gian khó nhất của thời bao cấp trong nhà lúc nào cũng vẫn luôn tràn ngập tiếng cười.
            Ai ngờ, cách đây 15 năm, nhà tôi mắc một căn bệnh hiểm nghèo. Tôi cùng các con đưa nhà tôi đi hết viện này, viện khác, được chăm sóc hết mình song nhà tôi vẫn không qua khỏi. Tôi gục ngã gục suốt mấy năm liền, song thương các con, tôi cố đành gắng gượng. Lúc ấy tôi mới ngoài 50 tuổi. Sau “đoạn tang” vợ, nhiều người mai mối, khuyên tôi “đi bước nữa” cho có  bầu, có bạn lúc tuổi xế chiều, nhưng ngại cảnh dì ghẻ con chồng, tôi quyết ở vậy một mình nuôi các cháu. Nay, tất cả bốn đứa đều đã có gia đình, đứa con gái út cũng lấy chồng đầu năm ngoái; cả 8 đứa gái, rể đều là kỹ sư, bác sĩ, giáo viên... Đứa lớn lấy chồng xa nhất cũng ở Sài Gòn, đứa út lấy chồng gần nhất cũng trên thị xã, cách nhà vài chục cây số. Đứa nào cũng vậy, khi mới lấy chồng, tháng nào cũng về thăm tôi đến dăm ba bận; sau thì một tháng, hai tháng, thậm chí ba tháng chúng mới về một lần, còn điện thoại thì ngày nào cũng gọi. Mấy lần về thăm, chúng cũng có ý mời bố ra thành phố, thị xã ở, nhưng tôi sống ở quê quen rồi, ở đấy còn có bà con họ mạc, chòm xóm. Hơn nữa, cái bàn thờ nhà tôi, chẳng lẽ lại để hương lạnh, khói tàn? Thông cảm với con cháu bận công việc xã hội, tôi chẳng hề có ý trách chúng một câu, song lắm lúc cũng cảm thấy buồn. Lại cảnh cơm niêu, nước lọ, chẳng khác nào hồi mới chuyển ngành sống ở khu tập thể cơ quan.
            Đùng một cái, “bà ấy” xuất hiện trước mặt tôi sau đúng 32 năm xa cách.
            Tôi quen bà ấy ở mặt trận Đường 9 vào năm 1967, lúc chiến tranh đang vào thời kỳ ác liệt. Lúc ấy, bà ấy là thanh niên xung phong, tròn 18 tuổi, còn tôi đã là trung đội trưởng, tuổi ngoài 30. Biết tôi đã có vợ, có con, song không hiểu sao bà ấy vẫn yêu tôi cuồng nhiệt. Từ cái cúc áo đứt, viên thuốc sốt rét, đến bát cháo lúc tôi ốm... đều do một tay bà ấy lo liệu. Bà ấy rất xinh, da trắng như trứng gà bóc, nết na, lại có giọng hát rất hay, bao nhiêu người ước ao được bà ấy yêu thương mà bà ấy dửng dưng, lại đi yêu tôi, một người đã có một vợ, hai con. Tôi cũng thầm yêu bà ấy thực lòng. Song tôi đã có vợ, có con, hơn nữa lính thời chiến dính vào chuyện yêu đương bất chính như vậy là phạm tội nặng lắm, nên tôi không dám đi xa hơn quan hệ anh em, đồng đội, thậm chí nhiều khi tôi phải trốn bà ấy. Hôm đơn vị tôi chuyển  quân, lần đầu tiên tôi và bà ấy mới dám lén ra ngồi với nhau bên bờ suối. Bà ấy khóc suốt cả một buổi chiều, nước mắt ướt đẫm một bên vai áo quân phục của tôi. Tôi vẫn nhớ mãi câu nói cuối cùng của bà ấy trước lúc chia tay: “Dù anh chết hay trở về với vợ, với con, xin anh hãy nhớ rằng: em yêu anh suốt đời, và sẽ chỉ yêu mình anh thôi...”. Quả là một người con gái có tính cách mạnh mẽ khác người. Bà ấy tặng tôi cái khăn dù quàng cổ, tôi vẫn giữ gìn hơn 30 năm nay. Thi thoảng tôi vẫn nghĩ đến bà ấy, song thâm tâm chỉ nghĩ đấy là một kỷ niệm thời trai trẻ mà thôi. Tôi vốn vẫn là một người chồng, người cha mẫu mực.
            Một hôm, có chiếc xe ca chở khách đi chùa Hương đến ngõ nhà tôi thì hỏng máy, khách xuống xe kẻ đứng ven sông ngắm cảnh, người ngồi ven đường lố nhố. Một người phụ nữ nhỏ nhắn thấy nhà tôi có bể nước mưa, bà ta vào xin nước uống. Tôi bảo, đi chùa sao uống nước lã? Bà ấy bảo: “Cháu” ở nông trường, quen và chỉ thích uống nước mưa... Rồi bà ấy hét lên: Anh Đống phải không...? Bà ấy xuất hiện như ma hiện, tôi bất ngờ quá, chỉ biết đứng như trời chồng giữa sân. Kể cũng lạ. Hơn ba chục năm trời, từ con người đến đất trời bao sự đổi thay, vậy mà vừa nhìn thấy tôi bà ấy vẫn nhận ra ngay. Sau bà ấy bảo: anh có cái răng khểnh không lẫn vào đâu được, có... chui dưới đất em cũng vẫn nhận ra... Hôm ấy, bà ấy lỡ cả chuyến lên chùa.
            Hết tết Quý Mùi vừa rồi, sau khi tiễn con cháu đứa vào Nam, đứa ra thị xã, tôi lén khăn khói tìm lên chỗ bà ấy.
            Nơi bà ấy sống là một nông trường của tỉnh B, đang trong thời gian chờ giải thể.
            Tưởng nơi nào, chứ nông trường này thì tôi biết đã lâu.
            Đó là một khu đất màu mỡ rộng tới hơn 2000 ha, nằm giữa ngút ngàn của núi rừng Tây Bắc. Trước năm 1960, nông trường còn là khu đất hoang thẳng cánh cò bay. Theo “tiếng gọi Tây Bắc”, đầu những năm 1960, hàng ngàn thanh niên xung phong mà phần lớn là nữ đã tình nguyện lên đây khai phá rừng hoang thành nông trường trù phú sau này. Hàng trăm bài báo đã viết đủ lời để ca ngợi nông trường. Hàng chục bài thơ ca ngợi sức mạnh của con người được thai nghén từ đây. Hồi ấy, nông trường như một biểu tượng của tinh thần tập thể, một bản anh hùng ca ca ngợi thành  quả lao động cua những con người...
            Khó một nỗi, những năm ấy lớp thanh niên chúng tôi ra mặt trận gần hết. Lên với nông trường mười người thì chín người là nữ. Mảnh đất mầu mỡ mà không có đàn ông. Sau 20 năm xây dựng, vào đúng cái lúc nông trường lên đến đỉnh của vinh quang thì mới “tòi” ra một vấn đề xã hội nhức nhối: hàng trăm cô gái ngày nào lên với nông trường còn mơn mởn, bỗng chốc biến thành những “cô lữ” không chồng! Ngày ấy, cánh lính tráng chúng tôi, cứ đánh xong vài trận lại được một dịp ra miền Bắc an dưỡng, nghỉ phép... Nghỉ phép mươi ngày, đủ thời gian vừa “tìm hiểu”, vừa cưới xong một “cô bé nhà bên” do bố mẹ “dấm” cho từ trước, công đâu mà mò lên tận cái nông trường heo hút cách xa hàng trăm cây số ấy. Thế là nhiều cô ế. Mà ế hàng loạt. Đầu những năm 1980, nhiều cô “tự cứu lấy mình” ở cái tuổi đã “đầu ba, đuôi vô cùng” bằng cách... về quê tìm chồng. Có cô lấy được anh trung úy xuất ngũ. Có cô lấy được anh công nhân cùng cảnh xa nhà. Có cô lấy anh thương binh vừa từ trại an dưỡng trở về. Nhiều cô lấy chồng thương binh được gọi là hành động cao cả, đẹp đẽ của thế hệ thanh niên thời bấy giờ. Cũng có nhiều tấm gương những người phụ nữ rất cảm động mà ở đây tôi không thể kể hết ra. Song suy cho cùng, đã làm người, nhất lại làm phụ nữ, ai chẳng  muốn có chồng, có vài đứa con? Trước là để có đứa trẻ bi bô cho đỡ vắng cửa, vắng nhà, sau là để lúc về già có chỗ mà dựa dẫm. Với một mong muốn cháy bỏng là được làm mẹ, một vài “cô lữ” nông trường bắt đầu dấm dúi... đẻ! Bây giờ, chửa trước, cưới sau, thậm chí không chồng mà chửa đã là chuyện thường. Chứ hồi ấy, không chồng mà chửa là chuyện tày đình, nhiều người ác mồm vẫn gọi là “chửa hoang”. Hồi ấy, hai từ “chửa hoang” như cái án tử hình đối với những nhà nào có con gái lớn. Vì thế, khi tiễn con đi đâu xa, bố mẹ chẳng dặn dò gì ngoài một câu: “Khi về, nhớ đeo “ba lô” đằng sau, chớ đeo “ba lô” đằng trước; mất nết tao... băm!”. Thế mà có cô vẫn cứ chửa. Có tổ địa chất trú chân tạm trong nông trường: có cô chửa! Anh lái xe chở gạo đến nông trường: cũng có cô chửa! Có cô mẹ ốm, xin về quê dăm hôm chăm sóc mẹ, lên được non tháng đã vội bỏ về quê vì có... chửa! Theo quan niệm cũ, hồi ấy gái không chồng đâu được quyền sinh con. Thế nên, cô nào có bầu, vội vã lẻn về quê để đẻ. Không về thì nông trường cũng đuổi, nên cứ tìm cách “chuồn” trước là xong! Khổ thân, có cô biết mình có chửa bèn bỏ đi đâu biệt tăm, ở lại nông trường chẳng ở vì không có chốn nương thân, về  quê cũng chết vì sợ... (!). Có cô không dám về quê, xin nông trường vài chục mét đất hoang tận cuối bìa rừng làm lán ở tạm, người ta đồn um lên: chắc... con ông Giám đốc nên mới... mới “sướng” như thế! Để giữ cái “tiếng” cho mình, ông Giám đốc lại phải yêu cầu cô này rời khỏi nơi đang cư trú. Chửa: bỏ về quê; chửa: đuổi khỏi nông trường... Cứ thế, mỗi đứa trẻ sinh ra từ nông trường là cả một cái ao chứa đầy nước mắt. Đầu những năm 1980, nông trường vợi người, ông Giám đốc có lúc cũng giật mình: hàng chục cô gái không chồng... biến mất (?). Cứ “đà” này, nông trường lấy đâu ra người mà sản xuất?
            Cũng may, trước những năm “đổi mới”, nhất là từ khi có Luật Hôn nhân và Gia đình, quan niệm nặng nề về chuyện này nhẹ nhõm hẳn. Người ta chỉ còn cười dấm, cười dúi đằng sau những cô gái không chồng mà chửa, chứ  chẳng ai còn dám đưa ra cuộc họp, hoặc “bắt vạ” những cô gái đáng thương hơn là đáng giận. Quyền của họ là được làm mẹ! Giữa những năm 80, nông trường vẫn còn hàng chục cô gái ngoài 40 tuổi mà vẫn... phòng không. Sau khi chuyển sang cơ chế thị “khoán hộ”, lãnh đạo nông trường nẩy ra “sáng kiến”: cấp cho mỗi cô dăm chục mét vuông đất ven đường cái, cho mỗi cô vay vài triệu đồng dựng cái nhà tạm, gọi là “đầu tư cho... tương lai!”. Chỉ trong một tháng, cả chục ngôi nhà nhỏ, vách đất, mái rạ đồng loạt xuất hiện ven con đường tỉnh lộ chạy vắt qua nông trường. Và chỉ một năm sau, dân số nông trường đột ngột tăng lên được hàng chục... đứa trẻ. Báo chí, dư luận coi như một “sự kiện”; có báo hết lời ca ngợi ông Giám đốc bằng đủ mỹ từ: nào là “nhân văn cao cả”; nào là “năng động”; nào là “tình người”... Có báo gọi đấy là “Làng không chồng...”; có người gọi đấy là “Làng không cha...”. Không gì thì không, người ta cũng là con người, cũng có quyền được làm mẹ chứ! Ông Giám đốc già hoan hỷ bảo thế, coi đấy là một thành công mang đậm tính nhân văn! Quả thật, ông đã đúng. Bây giờ, những đứa trẻ cùng năm sinh ngày ấy đều đang học phổ thông trung học trường huyện, và đang là “nguồn sống chính” ở nhiều nghĩa của hàng chục gia đình. “Làng không chồng” này đã biến thành “làng đông con”...
            Đấy là những gì tôi được biết qua báo chí và tìm hiểu sau này. Có điều, tôi cứ nghĩ nó là chuyện ở tận đẩu, tận đâu, hay chuyện của ai đấy trong phim, trong tiểu thuyết (!). Không ngờ Nguyệt- bà ấy- cũng từng có một quãng đời không kém gì giông tố. May mà nghị lực người lính đã giúp bà ấy vượt qua.
            Lúc đứng trước ba cái cọc tre buộc vào nhau gọi là “cổng”, tôi ứa nước mắt mà không tin nổi vào chính mắt mình...
            Trên một vạt đất rộng chừng nửa sào nằm khuất dưới chân đồi, những thanh nứa chiếc dài, chiếc ngắn cắm xiêu vẹo. Rào cắm mà không buộc lạt, thưa đến nỗi một con lợn con cũng lọt qua.
            Nhìn cách cắm rào tôi suy nghĩ: chắc nhà không có đàn ông! Chính giữa cái vạt đất ấy, một gian nhà nhỏ, mái lợp tranh, tường xếp gạch xiêu dẹo. Xung quanh nhà, chè xuân xanh mơn mởn. Nguyệt ngồi ở chái nhà ,tư lự, chậm chạp bốc từng nắm ngô ném cho đàn gà to lồng lộc dẽ đến dăm chục con. Trông thấy tôi, Nguyệt vụt đứng dậy. Đàn gà đạp lên nhau chạy thục mạng. Nguyệt đứng trân trân nhìn tôi, mắt giàn dụa nước. Em thốt lên một câu: Không ngờ... anh... lên thật...
            Giữa bốn hàng gạch được gọi là “tường” không thấy có cái gì đáng giá. Một bộ phản gỗ sung dùng lâu ngày đã nhẵn thín. Chiếc xe đạp cũ không sơn được treo cẩn thận ở góc nhà bằng hại sợi thừng. Đã 2 giờ chiều mà chiếc kim giờ đồng hồ vẫn chỉ con số 6. Nguyệt méo mó cười: Có mỗi cái đồng hồ thì đã hỏng từ lâu. Nhà không có đàn ông mà anh...
            Một điều làm tôi thật bất ngờ: Đằng sau tấm riđô hoa chắng ngang gian nhà để chia thành “buồng” có chiết tủ đứng cũ kỹ dùng để đựng quần áo; trên nóc tủ đặt chiếc khung ảnh mà người trong đó không ai khác chính là tôi. Nhìn tấm ảnh truyền thần rất đẹp, tôi nhớ ngay đến buổi chiều chia tay bên bờ suối, tôi đã tặng Nguyệt một tấm ảnh cỡ 3x4 cm. Lạ một điều, tấm ảnh truyền thần của tôi đặt trên nóc tủ lại có một giải lụa đen vắt chéo qua ngực theo kiểu ảnh chụp  một người đã chết. Thấy tôi quá đỗi ngạc nhiên, Nguyệt nói như van vỉ:
            - Anh vừa đi mệt, Xin anh, cơm nước xong, em sẽ kể hết anh nghe...
            Quả thật, 15 năm nay tôi mới lại có được những giờ phút hiếm hoi như buổi chiều hôm ấy. Sau ngày vợ mất, tôi dành hết tình yêu thương cho  bốn đứa con gái. Song chúng cũng còn phải lao vào học, lao vào những cuộc thi. Chúng yêu tôi, thương tôi, song thực lòng, mấy khi con cái hiểu được lòng cha mẹ? Sau, lên đại học, rồi lấy chồng, sinh con, chúng càng ít có thời gian quan tâm đến bố hơn. Lắm lúc tôi thấy thương tôi. Tôi thật cô đơn giữa chốn đông người. Hồi còn làm Giám đốc, tôi đi nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, đủ thứ sơn hào, hải vị. Ấy vậy mà đôi lúc vẫn thèm một bát canh cua nấu rau mồng tơi ăn với cà pháo mà cũng không có. Đôi lúc thèm cả một lời trách móc của vợ với chồng, thèm cả một lời quát mắng của mẹ đối với con, nhưng đâu có được. Bà ấy mất rồi!
            Bữa chiều hôm ấy, ngoài món gà luộc mà Nguyệt nuôi được, bà ấy còn đãi tôi món canh cua đồng nấu với rau mồng tơi kèm cà pháo là những thứ tôi nghiện từ trong bộ đội, và cũng là nhữnng thứ rất khó kiếm ở cái vùng đất nửa đồi, nửa núi này.
            Suốt bữa, bà ấy không ăn, chỉ ngồi nhìn tôi nhẩn nhà từng hớp rượu nhỏ.
            Đêm hạ tuần, trăng muộn.
            Lúc ông trăng khuyết mất một góc đột ngột chui lên từ ngọn đồi chè xa xa, bữa cơm mới tàn.
            Tôi hỏi Nguyệt, sao lại thờ tôi trong khi biết tôi còn sống. Bà ấy nén một tiếng thở dài rồi bảo:
            - Chuyện dài lắm, nhưng trước khi kể, em phải một trăm lần xin lỗi anh...
            Mẹ sinh em vào một đêm rằm trăng sáng. Đêm ấy, trên đường đến nhà hộ sinh, mẹ đẻ rơi em bên bờ giếng đầu làng; nhờ ánh trăng sáng vằng vặc mà bố mới nì rõ để tự tay cắt rốn cho em. Em sống nhờ ánh trăng. Có lẽ vì thế, bố đặt tên cho em là Nguyệt để nhớ đêm trăng hôm ấy.
            Người ta vẫn bảo, con gái sinh vào đêm rằm thường đáo để; còn ai có tên là Nguyệt, tên Liễu... thường hay gặp cảnh “hồng nhan”, chẳng biết có đúng hay không? Suốt từ bé đến lớn, chưa thấy ai bảo em đáo để bao giờ. Chỉ biết, tính em khác người: đã làm gì, làm bằng được; đã ghét ai, ghét hơn đào đất đổ đi; đã yêu ai, em quên cả thân mình. Học hết cấp 2 em nghỉ học. Năm 18 tuổi, nhiều người khen em đẹp nhất làng: mắt bồ câu, sống mũi dọc dừa... gái  quê đồng chiêm lam lũ mà nước da vẫn trắng ngần như trứng gà bóc. Mẹ em thở dài: thanh niên lành lặn ra trận hết cả rồi, muốn lấy một anh tử tế, chẳng lẽ tao lại... cho đi bộ đội? Bố em bảo: “Cái ngữ ấy mà đòi ra trận, có họa... vướng chân!”. Chỉ vì một câu ấy của bố, em lén nộp đơn vào bộ đội thật. Dạo ấy bộ đội không tuyển nữ, mà chỉ tuyển vào Thanh niên  xung phong. Em đã cuốc bộ 7 cây số lên tận huyện, nộp đơn xin vào Thanh niên xung phong, mặc bố em chầm ngâm chép miệng, thở dài, còn mẹ ngầm khóc đến cạn nước mắt. Em cùng 8 đứa con gái cùng tuổi, cùn làng lên đường một ngày mà vui ngỡ đi hội. Lần ấy bọn em xuất quân bằng đò. Mỗi huyện được phân bổ một chiếc đò gỗ to, chở cả trăm người lẫn gạo thóc, hàng hóa... Cả tỉnh có 14 huyện là 14 con đò. Rất nhiều cô giá trẻ măng ở độ tuổi mười bảy, mười tám. Cờ, biểu ngữ đỏ rợp một đoạn ngã ba sông Đáy. Hết đò đến xe Zin, khoảng ba tháng đã ra gần hết mặt trận. Những ngày đàu sống ở trạm giao liên tiền phương em đã gặp anh. Anh biết không, em yêu anh đến mê mẩn, cuồng si. Phút gặp đầu tiên em đã nghĩ ngay rằng: anh sinh ra là để cho em; và sinh em ra cũng là để cho anh. Tinh yêu đích thực thường như vậy. Anh cao, to, đẹp trai, hai mắt sáng như sao, lại thêm cái tài ăn nói lôi cuốn, rất duyên... Anh biết không, cả tiểu đội em chúng nó mê anh, suốt đêm chỉ bàn chuyện về anh; song biết anh đã có vợ, có con, lại thêm kỷ luật mặt trận, không đứa nào dám hé răng- ngoài em. Không biết có phải hồi ấy em “lẳng lơ” hay không? Cũng may hồi ấy anh là người cương nghị, anh chạy trốn em. Nếu không, chẳng biết bây giờ thế nào? Hạnh phúc nhất trong suốt cuộc đời em là buổi chiều trước hôm anh chuyển quân, em được một lần khóc trên vai anh bên bờ suối. Không một câu anh nói yêu em, song qua ánh mắt, em biết anh cũng yêu em. Đối với em, chỉ thế là đủ. Sau buổi chiều hôm ấy, không hiểu tại sao em cứ nghĩ đã là vợ anh. Em khắc khoải. Em đợi chờ. Đêm nào trước khi đi ngủ em cũng cầu trời, khấn phật cho anh trở về, anh đừng chết. Em với anh như có một định mệnh mà chính em cũng không lý giải nổi. Suốt sáu năm làm thanh niên xung phong hỏa tuyến, đi đến đâu em cũng hỏi thăm anh, dò la tin tức về anh, song biệt vô âm tín. Năm 1972, giữa lúc bom Mỹ đang đáng phá ác liệt ở Hà Nội, bọn em được chuyển quê hương. Cả huyện trống dong, cờ mở đón chúng em. Xã em chín đứa đi thì có sáu đứa về. Hai mươi bốn tuổi. Ở quê em tuổi ấy coi như đã khó lấy chồng. Cũng một vài người mối mai, đánh tiếng, em chẳng hề rung động trước ai. Đứng trước họ, em lại nghĩ đến anh, em lại lắc đầu. Người ta bảo “Con cá mất, con cá to” là thế...
            Ở nhà với bố mẹ được đúng 6 tháng, thấy còn buồn hơn ngày đi hỏa tuyến. Ngoài việc đi làm theo kẻng cho Hợp tác xã lấy ngày mươi điểm, chẳng còn việc gì làm. Bạn bè cùn lứa đã lấy chồng hết, chẳng có chỗ mà chơi. Nghe tin nông trường này tuyển công nhân nữ chuyên đi hái cam, em lại lên xã xin “chỉ tiêu” đi xây dựng nông trường...

            Nguyệt kể đến đây thì ngoài phí bờ rào có tiếng xe máy Minskhơ nổ xoành xoành. Một ông xe ôm đội chiếc mũ cối chùm hụp xuống tận mặt, vừa bóp còi inh ỏi, vừa rọi đèn cho một cô gái lách qua cành rào chắn ngang ba cái cọc tre làm cổng. Vừa chạy vào nhà, cô gái vừa ríu rít:
            - Mẹ... Mẹ...
            Cô gái còn trẻ, ra dáng một nữ sinh. Qua ánh đèn vàng, tôi thoáng thất thần: không ngoài ai khác, đấy chính là Nguyệt của hơn ba mươi năm về trước; từ khuôn mặt, đôi mắt, sống mũi..., không lẫn vào đâu được. Nguyệt vụt đứng dậy:
            - Con em đấy!
            Cô gái sững lại trân trân nhìn tôi, rồi lại nhì lên cái ảnh thờ cài chéo băng tang vẫn đặt trên nóc tủ. Nguyệt ngẹn ngào bảo con gái:
            - Cha đấy, con...
            Tôi đứng như trời trồng. Thật bất ngờ chỉ trong vài tích tắc, cô gái chạy nhào về phía tôi...
            Tôi không hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra nữa.
            Hồi còn ở chiến trường, tôi và Nguyệt mến nhau thật, song yêu nhau theo đúng nghĩa của nó thì chưa bao giờ. Duy nhất buổi chiều cuối cùng bên bờ suối vắng, tôi ôm em vào lòng, đặt lên môi em một nụ hôn. Chỉ vậy thôi. Chẳng lẽ chỉ có thế mà Nguyệt nỡ... đổ vạ cho tôi?
            Cháu gái mới chừng ngoài hai mươi tuổi, gọn ghẽ, xinh xắn như mẹ ngày nào. Cháu chỉ kịp thét lên một tiếng: Cha!... rồi đổ gục trên vai tôi.
            Sau mấy phút nức nở đến nghẹn ngào, cháu trách:
            - Sao cha nỡ bỏ con suốt hai chục năm nay, hở cha...?
            Tôi nghẹn người không nói được câu gì, đưa ánh mắt giận giữ nhìn Nguyệt. Nguyệt chắp tay, vái trước mặt tôi hai cái:
            - Em xin anh, thư thư rồi em kể hết anh nghe, anh sẽ hiểu...
            Cháu gái tên Hạnh- Nguyễn Thị Đức Hạnh- lấy họ của tôi. Sau nửa ngày đường từ trường đại học ở Hà Nội về, cháu thấm mệt. Quá nửa đêm, cháu đã ngủ mê mệt. Con bé giống Nguyệt ngày xưa quá! Trong giấc ngủ, thi thoảng nó lại nhếch miệng, nở một nụ cười mãn nguyện. Nó đang có một giấc mơ tràn trề hạnh phúc.
            Đợi con ngủ say, Nguyệt lại lần lần quá khứ, kể nốt câu chuyện còn dở dang cho tôi nghe.
                                                                  
            ... Năm 1972, sau hơn nửa năm ở nhà với bố mẹ, em lại tình nguyện lên nông trường. Hồi ấy, đàn ông ra mặt trận hết. Nông trường có gần một ngàn người thì tới hơn chín trăm rưởi là nữ. Ban ngày bọn em đi làm theo đội, trồng cam, cắt cỏ..., vui lắm! Đêm về, một nôi cô đơn, vắng vẻ, heo hút, bao phủ lên cả đội. Đội 2 chúng em có 50 người, thì cả 50 người là nữ, từ đội trưởng, đội phó, tổ trưởng... Quá nửa đội là thanh niên xung phong xuất ngũ, sàn sàn, độ tuổi 22- 25. Ban ngày đi làm vất vả nhưng vui. Đêm đến, 50 đứa nằm trong một lán, không đứa nào nói với nhau một câu. Có đứa chong đèn dầu, cặm cụi suốt đêm viết thư cho gia đình. Nhiều đứa vờ ngủ, vắt tay lên trán, mắt thao láo nhìn lên mái gianh mà thở dài sườn sượt. Có đứa nằm ôm nhau, rấm rứt khóc... Nhiều khi cả tháng chúng em không thấy một bóng đàn ông đi qua. Nhớ một lần, có anh cán bộ huyện đội đi tuyển quân đạp xe ngang qua, cả đội nói, cười, trêu chọc, rồi lấy đất, đá, củi khô... ném anh cán bộ huyện đội. Anh này sợ quá, quẳng cả xe đạp chạy thục mạng, sáng hôm sau bọn em lại phải cử người mang xe lên lận huyện trả người ta. Suốt hàng chục năm trời như vậy. Chán cảnh ấy quá, một số đứa bỏ về quê lấy chồng. Không hiểu bằng cách nào, một vài đứa có chửa, nông trường kỷ luật lên, kỷ luật xuống rồi mới đuổi việc. Có đứa vác bụng về quê, đứa bỏ đi đâu không rõ? Gan lỳ nhất là cái Huyền. Khi biết nó có chửa, ông Giám đốc nông trường ký quyết định cho nó thôi việc, đuổi về quê, nó dứt khoát không về. Nó vác bụng vào rừng tìm tre, nứa, làm một cái lán nhỏ trên miếng đất hoang ven nông trường, sáng sáng xuống chợ huyện, mua hàng đầu chợ, bán cuối chợ, vậy mà sống được! Hồi nó đẻ được thằng con trai, cả đội em coi như con chung. Thằng bé bây giờ đã là kỹ sư lâm nghiệp, đang công tác ở chính nông trường này.
            10 năm sống cảnh như vậy, đến năm 1982, thì có tổ địa chất đến khảo sát suối nước nóng đóng trại ngay gần đội của em. Cả đội mừng như ruộng cạn gặp cơn giông. Lúc này em đã 34 tuổi, tưởng như cái tuổi đã hết thì con gái. Vậy mà có một anh vẫn đến với em. Anh ấy khen em đẹp, em trẻ..., em mụ cả người không biết gì nữa. Anh ấy bảo: Đi biền biệt, chưa có thời gian lấy vợ... Em như người đang ốm bỗng có thuốc thần, khỏe khoắn ngay lại. Nhiều đứa ganh tỵ, bảo em “tốt số”. Ngẫm cũng xứng đáng thôi! Ngoài ba mươi tuổi. Vẫn còn xuân sắc. Mà em đã được ai yêu bao giờ?...
            Lúc cái bụng em lùm lùm, cũng là lúc đơn vị anh ấy hoàn thành nhiệm vụ phải về xuôi. Hôm chia tay, anh ấy thề sống thề chết rằng chỉ mươi hôm sau anh ấy sẽ lên đón em về. Mươi hôm... Một tháng... Một năm... Rồi hai mươi mốt năm..., anh ấy lặn mất tăm. Chỉ thương cái Hạnh, côi cút suốt hai mươi mốt năm nay.
            Cũng may hồi em có mang, quan niệm về gái không chồng mà chửa không còn nặng nề như xưa nữa. Sau khi có cơ chế khoán hộ, nông trường còn cắt cho em một miếng đất nhỏ và cho vay ít tiền để dựng cái nhà tạm. Trong nhà có đứa trẻ con, em thấy mình cũng hạnh phúc.
            Đẻ cái Hạnh xong, em mới biết rõ con người thật của bố nó. Té ra anh ta đã có vợ và ba đứa con gái ở dưới xuôi. Anh ta đến với em chỉ để kiếm thằng con trai. Khi biết tin em lại sinh con gái, anh ta trốn biệt luôn. Có người xui em mang con trả cho nhà anh ta, em không nghe. Con người bạc tình như thế em chẳng tiếc. Lúc ấy, không hiểu làm sao em chỉ nghĩ đến anh. Em cứ ước ao rằng, giá như cái Hạnh nó là con anh? Em cứ tiếc rằng, sao buổi chiều hôm ấy em không liều mình xin anh một đứa con? Biết anh họ Nguyễn, em lấy họ anh là họ con. Giấy khai sinh của nó, trong phần ghi về bố, em cũng lấy tên anh: Nguyễn Văn Đống! Khi lên hai tuổi nó đã nói sõi. Câu hỏi đầu tiên trong đời nó với em là: “Bố con đâu?”. Em lấy tấm ảnh của anh ra, chỉ cho nó xem và bảo: “Bố hy sinh rồi”!. Suốt những năm thơ ấu, nó luôn giữ tấm ảnh anh bên mình. Em biết, nó yêu bố vô cùng. Cái ảnh trên bàn thờ kia là hồi lên 10 tuổi, nó bắt em xuống phố huyện vẽ truyền thần, rồi đặt lên bàn thờ. Suốt hai chục năm nay, nó vẫn tin rằng người trong ảnh chính là bố nó. Sau hôm gặp lại trong chuyến đi Chùa Hương, em nói với nó: “Bố hãy còn sống...”, nó như phát cuồng, tuần nào học xong cũng vội vã từ Hà Nội về, bắt em dãn đi gặp anh. Tội nghiệp nó quá...!
            Giờ tôi đã hiểu.
            Nguyệt van vỉ tôi hãy vì Nguyệt, vì cháu Hạnh mà đừng cho nó biết sự thật. Hãy cứ để nó yên ổn trong niềm hạnh phúc dù giả tạo là có một ông bố tuyệt vời như tôi. Tôi thương Nguyệt. Tôi thương cháu Hạnh vô cùng. Bỗng dưng, cả hai mẹ con đối với tôi như trở thành máu mủ. Tôi không muốn làm mất đi niềm hạnh phúc cuối cùng của hai mẹ con. Song  còn 4 đứa con gái của tôi, bốn đứa rể và hàng chục đứa cháu ngoại, lại còn bà con lối xóm, họ hàng..., tôi biết ăn nói với họ ra sao? Có ông bạn thân biết chuyện khuyên tôi đón mẹ con cô ấy xuống dưới này cho có bầu, có bạn lúc tuổi già... Chao ôi! Đã 15 năm sống vò võ một mình, tôi cũng muốn thế lắm chứ. Song đến cái tuổi này, chẳng nhẽ để người đời mai mỉa, con cháu cười chê. Ở đời có câu: “Trăng sớm còn chẳng ăn ai, huống gì trăng muộn”. Còn bỏ mặc mẹ con Nguyệt tôi cũng không đành!


            Tôi đau đầu quá, không biết xử trí ra sao. Đành viết lá thư dài, trước là để dốc bầu tâm sự, sau là hỏi quý báo, quý độc giả: Có ai rơi vào hoàn cảnh như tôi không? Tôi nên làm thế nào đẻ vẹn cả đôi đường?... Tôi xin hết lòng cám ơn.
T.N
NGƯỜI HAI LẦN CẮM CỜ TRONG 
“NGÀY LỊCH SỬ”…
Ba mươi nhăm năm công tác ở Văn phòng Chính phủ, người vẫn gầy nhẳng và giản dị như một lão nông. Lúc tôi hỏi quê, ông bảo: Tôi dân Vũ Thư- Thái Bình! Anh bạn đi cùng suýt xoa: Lại Thái Bình! Quê ông hình như có “duyên” đi căm cờ. Từ Tạ Quốc Luật cắm cờ ở Điện Biên Phủ, đến Bùi Quang Thận cắm cờ ở Dinh Độc Lập, rồi đến ông. Không những thế, ông còn là người duy nhất hai lần được cắm cờ trong cái thời khắc lịch sử ấy: 30/4/1975!
I.   Từ “Trại David”…
Sinh năm 1952 ở xã Tự Tân – Vũ Thư – Thái Bình. Từ nhỏ, cậu bé Phạm Văn Lãi đã có dáng người cao ngỏng nhưng gầy sắt, gầy seo. Năm 16 tuổi, cha xin cho đi học trường Thể dục – Thể thao Bắc Ninh, hòng mong cậu con trai sau này có cái “dáng thể thao” một tý! Song cái “nghiệp thể thao” chưa vận được vào cơ thể là mấy, thì năm 1970 Phạm Văn Lãi xung phong đi bộ đội, đúng lúc chiến trường Miền Nam đang thời kỳ ác liệt nhất. Ông bảo: Anh em học viên cùng trường lần lượt lên đường hết; ngồi học không chịu được…
Sau 6 tháng huấn luyện, Phạm Văn Lãi được điều động vào chiến trường Miền Đông, một trong những mặt trận quan trọng hình thành nên chiến dịch Hồ Chí Minh. Những trận chiến ác liệt giành thế “răng lược”; những lần bị địch vây ráp; có lần rơi vào ổ phục kích… Song với dáng người thể thao vốn nhanh nhẹn, mưa bom bão đạn của địch chẳng làm gì nổi được ông. Sau 3  năm tham gia hàng chục trận chiến ở chiến trường Miền Đông, với tư chất thông minh cộng với có chút văn hóa, năm 1973, Phạm Văn Lãi được điều về Phòng Điện ảnh thuộc Cục Chính trị Quân Giải phóng Miền Nam, hoạt động tại Trại David. Theo ông, đây mới là những tháng ngày hết sức căng thẳng và nguy hiểm. Nằm sâu trong lòng địch, nhân viên, chiến sỹ trong Trại không chỉ suốt ngày căng thẳng đối phó với những âm mưu nham hiểm của kẻ thù nhằm phá hoại Hiệp định Paris; mà còn phải dồn hết lòng gan dạ, mưu trí, thông minh của mỗi cá nhân để hóa giải sự lươn lẹo, dối trá của địch… Đây thật sự là một mặt trận hết sức căng thẳng ngay trong lòng địch; chỉ một sơ xuất nhỏ có thể gây hại cho cách mạng. Ông kể: “Trại David như một căn cứ lõm giữa sào huyệt đối phương, một mặt trận công khai giữa lòng địch. Chúng tôi đã trải qua 823 ngày đêm đấu tranh trực diện, công khai với Mỹ - Ngụy”… Và thực tế những năm tháng ấy, Trại David như cái gai nằm sát trái tim kẻ thù, góp phần quan trọng vào việc ép Mỹ - Ngụy thực hiện hiệp định Paris. Không những thế, anh em còn biến Trại thành nơi cung cấp, trung chuyển công khai những ấn phẩm văn hóa, phim, ảnh… phục vụ chiến trường. Ông Phạm Văn Lãi bồi hồi nhớ lại: Ngày 26/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn; thì ngay hôm ấy, anh em ở Trại David được lệnh cung cấp và chiếu liền 5 tập bộ phim “Giải phóng Châu Âu” của điện ảnh Liên Xô. Hình ảnh những chiếc xe tăng Hồng quân ào ạt tiến vào Berlin đã khiến chiến sĩ ta hết lòng phấn chấn trong trận tiến vào Sài Gòn…
Ngày 26/4, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn thì đêm 28/6, Trại David nằm ven sân bay Tân Sơn Nhất cũng trở thành cứ điểm mọi loại hỏa lực của cả hai bên. Pháo tầm xa 130 ly của ta ngày đêm nã đạn vào sân bay, chặt đứt cầu hàng không cuối cùng trong việc di tản của Mỹ - Ngụy. Pháo của địch cũng câu đêm ngày vào sân bay, nhằm chặn đường tiến của ta. Đạn pháo hai bên rơi đầy cả vào Trại David. Những ngày ấy, nhân viên, chiến sĩ ta đang trong trại David cũng không nghĩ mình còn sống đến ngày chiến thắng, song mọi người đều bám trụ đến phút cuối cùng. Thức tế, đã có một số chiến sĩ của Trại hy sinh, bị thương ngay trong ngày toàn thắng…
II. …đến Dinh Độc lập.
Phải mất đến hơn hai đêm, một ngày giằng co, Quân Giải phóng mới căn bản chiếm được sân bay Tân Sơn Nhất. Vào khoảng 8 giờ ngày 30/4, tiếng đạn pháo, tiếng súng ở khu vực sân bay mới vãn. Thiếu tướng, trưởng đoàn đại biểu Quân sự lệnh cho Trung tá Mười Sương, Trưởng ban Chính trị: gọi Thượng sỹ Phạm Văn Lãi lên. Phạm Văn Lãi được giao nhiệm vụ: Vào kho lấy lá cờ to nhất, giao cho vệ binh cắm lên tháp nước sân bay Tân Sơn Nhất. Vốn tính nhanh nhẹn, chỉ trong vài phút, Phạm Văn Lãi đã có trong tay lá cờ to nhất may từ bốn khổ vải mà Trại có. Song, khi mang ra, thì các đồng chí vệ binh đã đi làm nhiệm vụ khác. Một thoáng chần chừ: tiếng súng vẫn nổ; tàn quân đầy rẫy; ta và địch vẫn còn giằng co… Mang cờ Giải phóng trèo lên điểm cao đơn độc là tháp nước lúc này chẳng khác nào tấm bia sống cho kẻ thù. Song, nếu lúc này có một lá cờ giải phóng trên cao điểm, sẽ động viên chiến sỹ ta rất nhiều, và làm cho địch tan rã cũng rất nhanh… Nghĩ vậy, Phạm Văn Lãi quyết định: tự mình cắm cờ! Trên đường chạy đến tháp nước. ông gọi thêm đồng chí Nguyễn Văn Cẩn – một chiến sỹ gác cổng Trại, đề nghị phối hợp cắm cờ. Hai người vượt qua làn đạn vẫn còn chát chúa, leo lên tháp nước cao chót vót. Cũng may, lúc chạy ra tháp nước, ông vớ được một đoạn ống nước bằng kẽm, giao cho đồng chí Cẩn. Đứng phía trên, ông ra hiệu cho đồng chí Cẩn đưa ông nước lên, rồi xuyên một đầu dây thép vào cuối cạp cờ, quấn mấy vòng rồi buộc dây thép vào cán cờ, sau đó buộc ghì vào thanh sắt ốp dọc bên ngoài thành tháp nước. “Lay lay thấy cán cờ đã chắc chắn, tôi mới buông hai mép cờ ra. Nghe “phật” một tiếng, rồi lá cờ tung bay trong gió, hai chúng tôi vui sướng đến nghẹn cả người…!”
Đúng như suy nghĩ của Phạm Văn Lãi; lá cờ được cắm lên, vừa là hoa tiêu cho pháo binh ta tính toán phần tử bắn chính xác, làm chuẩn cho bộ đội tiến công; vừa làm cho quân địch ở cả Sài Gòn hoảng loạn, nhanh chóng tan rã. Bản chất, nó như cái đinh cuối cùng đóng vào cỗ quan tài của chế độ cũ… Ngay chiều 30/4, Ủy ban Quân quản Sài Gòn được thành lập. Phạm Văn Lãi cùng nhiều cán bộ, chiến sỹ Trại Divid cũng được điều về Ủy ban Quân quản. Phạm Văn Lãi được bố trí ở tầng 2 – Dinh Độc lập. Một vinh dự nữa lại đến với Phạm Văn Lãi: Sáng 1/5/1975, ông được Thượng tướng Trần Văn Trà đích thân giao nhiệm vụ: trèo lên nóc Dinh Độc lập, thay lá cờ do Bùi Quang Thận cắm hôm trước, vốn nhỏ quá. Hơn nữa, là cờ cũ bị mắc dây, không mở ra được, cũng không kéo dây hạ xuống được. Cột cờ cao, trơn tuột, Phạm Văn Lãi bèn lấy dây dù buộc vào hai chân như kiểu bà con Nam bộ leo dừa mà leeo lên, và cũng phải mãi mới gỡ được dây rối, rồi treo lại lá cờ lớn hơn…
Sau 7 năm quân ngũ, năm 1977, Phạm Văn Lãi được điều về Văn phòng Chính phủ.
Người viết bài này có một ông thầy dạy Địa lý hồi học cấp 3. Sau, Thầy chuyển ra Văn phòng Chính phủ, công tác cùng ông Phạm Văn Lãi ngót nghét chục năm. Vậy mà hỏi về “Người hai lần cắm cờ trong ngày lịch sử”, thầy ngớ người: Chỉ biết cái ông Phạm Văn Lãi,- Vụ phó- là một người cán bộ mẫn cán, đức độ, giản dị… Chỉ biết ông Phạm Văn Lãi cũng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh… Chứ cũng ít ai ở Văn phòng Chính phủ biết rằng ông chính là người hai lần cắm cờ trong cái ngày lịch sử ấy…
Hỏi ông Phạm Văn Lãi về việc này, ông chỉ cười: Hai lần cắm cờ, chỉ là hai lần thực thi nhiệm vụ, có gì mà kể… Anh em chiến sỹ, công lao, hy sinh… còn lớn hơn tôi nhiều… 35 năm làm ở Văn phòng Chính phủ, người vẫn gầy sắt, gầy seo. Tài sản chẳng có gì ngoài một căn hộ bốn chục mét vuông ở khu tập thể Bộ Giáo dục. Năm 2012, bà vợ cũng về hưu từ Tổng Công ty rau quả (Bộ Nông nghiệp), hai ông bà bán nốt căn hộ này, phần chia cho con cái, phần mang về quê cải tạo cái nhà, cái vườn của Tổ tiên để lại. Gần sào vườn với và chục gốc trà cổ trồng từ hàng trăm năm trước lại là nguồn thu chính của ông bà. Cũng thèm có vài cái lồng chim lấy tiếng hót; vài nhành lan để ngắm hoa, thưởng nguyệt… Song ông bảo: Suốt ngày bới đất lật cỏ, đánh chỗ này, trồng chỗ kia…, chưa có lúc nào mà chim với hoa để thưởng thức lúc tuổi già. Chỉ còn có cái vườn còn đỏ ối, ngồn ngang đất là đã ngút ngát bóng xanh. Đến bà con ở thôn Nam Long cũng chỉ biết hai ông bà “làm gì trên Hà Nội” nay về hưu(?!). Chẳng ai biết rằng, đấy chính là người đã hai lần cắm cờ ở hai cao điểm trong trận chiến quyết định trong ngày 30/4.

                                                                                                T.N

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

BA GIỜ VỚI... 
"NGƯỜI LÁI XE SỐ MỘT"!

Cũng vì sự ác liệt của hai cuộc chiến tranh, mà nhiều lái xe ô tô ở Việt Nam đạt trình độ siêu đẳng. Trong chiến trường, từng có người lái xe bay qua suối để đến bờ bên kia, ra mặt trận. Thậm chí, có những đoàn xe không lốp, đi bằng vành, lăn bánh sắt trên dây cáp vượt qua vực thẳm chở hàng ra tiền tuyến, thế giới phải kinh ngạc…
Song, nói đến “Người lái xe Số Một” ở Việt Nam, chắc không có ai khác ngoài ông Nguyễn Văn Mùi! Không hẳn vì ông là người đã lái xe suốt 30 năm không một lần mắc lỗi; mà vì 30 năm trong nghề lái xe, thì có đến 26 năm ông lái xe cho hai đời Nguyên thủ Quốc gia, trong đó có 16 năm làm bảo vệ, lái xe cho “Người công dân Số Một”- Chủ tịch Hồ Chí Minh…
 Một công việc, và một kỷ lục chắc… không có người vượt!

Con phố Phương Mai (Đống Đa- Hà Nội) nằm sát ba bệnh viện lớn, lúc nào cũng đông đúc, ngột ngạt…
Tận cùng trong cái ngách nhỏ thuộc con phố ấy, một ngôi nhà nhỏ chật chội, im ắng đến tĩnh mịch; song sạch sẽ, ngăn nắp và xanh mướt mát đến diệu kỳ. Nó như một ốc đảo giữa ồn ào phố thị. Tuy chật thôi; song người chủ đã khéo tạo nên sân trước, vườn sau. Những cây lộc vừng đang kỳ nở hoa đỏ lựng. Những giò phong lan cuối hè còn vương đầy nụ. Bốn, năm cái lồng chào mào, chòe lửa, gáy, họa mi…treo lủng lẳng; những con chim tranh nhau hót loạn xạ… Một ông cụ cao lớn, tóc húi cao bạc trắng như cước trên khuôn mặt còn đỏ au đang lúi cúi cho mấy con chim ăn. Phong độ. Đĩnh đạc. Vừa thấy mặt tôi, ông cụ đã tần ngần mà rằng: Tiếc quá! Tiếc quá! Có con chào mào hót hay quá mà nó vừa bay mất thôi… Thật không thể tin nổi rằng: đấy lại là một ông cụ đã ở tuổi 84, người có đến 26 năm làm bảo vệ, làm lái xe xuyên suốt hai đời Nguyên thủ Quốc gia, trong đó có 16 năm làm bảo vệ, lái xe cho Hồ Chủ Tịch- “Người công dân Số Một” của Việt Nam!
Trong căn phòng khách nhỏ mà trước đây vốn là cái kho của Nhà khách Văn phòng Chính phủ, đồ đạc khá đơn giản song sắp xếp rất gọn gàng, hợp lý. Ông cụ bảo: Tôi sống rất đơn giản, song rất sạch sẽ… Nhiều năm gần Bác Hồ, có lẽ tôi cũng được ảnh hưởng tính cách của Bác. Bản tính trầm lặng, ít nói, mà khi tôi hỏi về Người, cặp mắt vẫn sáng ngời lim dim một lúc lâu như để hồi tưởng những năm tháng đẹp đẽ nhất trong cuộc đời…
Ông là Nguyễn Văn Mùi, sinh năm 1931 từ một vùng quê nghèo thuộc xã Xuân Hùng, Xuân Trường, Nam Định. Cha mẹ sinh đến 9 người con, nhà ông được coi là nghèo nhất trong cái vùng quê nghèo ấy. Là con trai út, nên từ nhỏ đã được cha dắt díu đi hết Quảng Ninh, Hải Phòng…, cha con làm thuê, làm mướn. Năm 1948, khi vừa tròn 17 tuổi, chàng thanh niên Nguyễn Văn Mùi từ Quảng Ninh tìm đường về quê, nhập đội du kích. Sau, Pháp đánh chiếm Nam Định, đội du kích dạt sang Thái Bình, gây dựng lại lực lượng. Thái Bình mất nốt, mấy anh em trong đội du kích đành bỏ quê, trốn nhà tìm đường lên Chiến khu Việt Bắc. Cũng may là vừa lên đến Việt Bắc thì Nguyễn Văn Mùi gặp được ông anh cả đang làm ở xưởng đúc tiền. Nhờ anh trai xin cho, Nguyễn Văn Mùi được nhận vào làm công nhân ở đây với nhiệm vụ đốt than, thổi lò… Đến năm 1950, Chính phủ chuyển từ đúc tiền kim loại sang in tiền giấy, anh Mùi chuyên nghề đốt lò, thổi than bỗng dưng… thất nghiệp. Mất một thời gian dài, Nguyễn Văn Mùi được giao nhiệm vụ áp tải lương thực từ đồng bằng chuyển lên chiến khu. Những lúc nghỉ hay rảnh rỗi, Mùi lại năn nỉ lái xe cho… học lái. Với bản tính thông minh, ham học, chẳng mấy chốc anh đã lái được thành thạo, và nghiệp lái xe vận vào chàng thanh niên quê gốc Nam Định từ đây… Ông Nguyễn Văn Mùi nhớ lại: đời tôi có nhiều duyên may. Hôm ấy, đoàn vận tải lương thực đang nghỉ chân ở một cánh rừng, thì gặp đội xe của Văn phòng Chính phủ. Thấy xe tôi đông người, một anh bên Văn phòng Chính phủ hỏi: Sao xe ấy đông thế? Anh phụ trách bảo: thiếu xe, mấy người thay nhau lái một chiếc (cả đội xe vận tải lương thực cho chiến khu hồi ấy có đúng 5 chiếc). Thế rồi một anh–sau mới biết là anh Vũ Hoàng, đội trưởng–sang bảo: thì cho một cậu sang đây! Rồi anh Vũ Hoàng chọn đích danh Nguyễn Văn Mùi, một chàng “xế mới” cao to, mặt mũi hiền lành. Con đường từ quân du kích địa phương đến lái xe cho Văn phòng Chính phủ chỉ đơn giản có thế. Chẳng một Quyết định. Không một dấu mộc. Ông cười: hồi ấy bọn mình lên chiến khu mà cứ như… đi chơi ấy!
Năm 1954, đoàn quân tiến từ Việt Bắc về Thủ đô, Nguyễn Văn Mùi cũng ở trong đoàn quân ấy. Vốn cao to, nhanh nhẹn, Nguyễn Văn Mùi được giao nhiệm vụ: lái xe sau, áp sát, làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ. Suốt 7 năm liền, chiếc xe Pô-Pê-Đa và Nguyễn Văn Mùi lặng lẽ như một cái bóng, lúc cản địa, lúc áp sát, lúc đổi xe, nghi binh…, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho vị Cha già dân tộc. Cho đến một ngày mà ông Mùi không sao quên được; ấy là ngày 15/3/1961, đồng chí Vũ Kỳ gọi ông lên giao nhiệm vụ: “Từ hôm nay đồng chí Mùi chính thức lái xe cho Bác”! Lúc ấy tai ông như ù đi: Không ngờ, cái anh đốt than, thổi lửa trên chiến khu hôm nào, nay được lái xe cho Lãnh tụ cao nhất của Đất nước. Nguyễn Văn Mùi vừa mừng, vừa lo đến thắt ruột. Biết ý, Bác vỗ vai Nguyễn Văn Mùi: “Cháu lái xe cho Bác, cứ đi đứng an toàn, cẩn thận là được. Bác không yêu cầu phải đi nhanh nhưng phải tuyệt đối an toàn, đừng đâm vào ai, cũng đừng để ai đâm vào mình.”! Được lời động viên của Bác, từ lúc ấy ông mới yên tâm. Ông tâm niệm: “Cả đời Bác đã hy sinh cho Dân tộc, không một đòi hỏi. Mình lái xe cho Bác, phải làm sao cho xứng với Bác.” Từ đấy, hàng ngày ông dậy sớm hơn, thay nước, đổ xăng, kiểm tra từng chi tiết nhỏ… Đi đâu Bác thường đi bất chợt, nên sáng sớm sau khi bảo dưỡng xe xong, ông phải dùng tay quay khởi động cho nóng máy, để Bác cần đi là có xe ngay. Hồi ấy, Văn phòng cấp cho ông một gian nhà rộng 10m2 ở số 2- phố Thụy Khuê nhưng chẳng mấy khi ông ở. Suốt đêm, suốt ngày ông trực ở đội xe, Bác cần đi đâu là có ngay. Vợ chồng quanh năm không gặp mặt. Nhớ mãi một lần, hôm ấy sáng sớm Bác phải đi địa phương gấp; đồng chí bảo vệ chuẩn bị không kịp; Bác bảo Nguyễn Văn Mùi: “Cứ đi! Không chờ!”. Lần ấy, đồng chí bảo vệ vừa được một phen vừa lo lắng, vừa ân hận suốt. Là người chuẩn mực về kỷ luật, song Bác lại là người cực kỳ tâm lý và quan tâm đến anh em phục vụ. Năm 1956, khi còn làm lái xe bảo vệ, Nguyễn Văn Mùi về quê cưới vợ. Bác biết, Bác “Mừng cô chú” một cái phong bao bên trong có 20 ngàn đồng. Lúc ấy, 20 ngàn đồng bằng đúng một tháng lương của lái xe, đủ đong một tạ gạo. Việc Bác nhịn ăn nhường khẩu phần ăn cho anh em lái xe, phục vụ đã trở thành chuyện hết sức bình thường. Sinh nhật, Bác thường tổ chức đi địa phương, tránh tốn kém, mất thời gian. Lần ấy đúng dịp 19/5, Bác đi Vĩnh Phúc. Buổi trưa, trên đường về qua Đông Anh, Bác bảo dừng lại cho đoàn ăn cơm. Suất của anh em lái xe, phục vụ chỉ có ít thịt lợn. Suất cơm của Bác có thêm mấy miếng thịt gà hấp cách thủy. Thấy vậy, Bác gắp cho mỗi người một miếng thịt gà. Có người chưa quen cảnh ấy, ngồi rưng rưng nước mắt, không dám ăn. Bác bảo, cố mà ăn cho hết, không để lãng phí. Ăn để có sức mà làm việc… Ông Nguyễn Văn Mùi bùi ngùi: Thương Bác lắm. Lúc gần mất rồi, mà Bác vẫn cứ nhường nhịn, tiết kiệm... Đến cái quạt điện, Bác cũng cứ bật lên rồi lại tắt. Bác bảo: Vừa đỡ tốn điện; vừa đỡ hại quạt. Đất nước còn thiếu điện! Trưa hè nằm nhà sàn vẫn nóng như rang. Anh em tính lắp cho Bác cái điều hòa mà Bác nhất quyết không chịu. Anh em chúng tôi bàn nhau: hôm nào Bác đi vắng, cứ lắp cho Bác. Vậy mà về nhìn thấy thế, Bác nhất quyết bắt tháo xuống, mang lắp cho một bệnh viện. Bác bảo: “Ở đấy, họ cần hơn Bác”! Đến cái ô tô đảm bảo an toàn là thứ hết sức cần thiết với một lãnh tụ. Song Bác cũng dứt khoát không nhận. Hồi ấy, Liên Xô tặng Bác một chiếc xe Zit-Nanh-Đơ; đây là loại xe sản suất riêng cho nguyên thủ Quốc gia, có kính chống đạn dày đến nửa gang tay. Thấy chiếc xe quá sang trọng, Bác không nhận. Bác gọi tôi ra: “Này chú Mùi, xe mình (là cái xe Pô-Pê-Đa Bác vẫn thường đi) có tốt không?”. Tôi thật thà: “Dạ, tốt ạ…”! Bác bảo: “Tôi nghe chú Mùi; xe còn tốt, không đổi, lãng phí…”! Sau này bác mới bảo với tôi: Đất nước còn nghèo, đi xe sang là lãng phí! Hơn nữa Bác thường xuống với dân, đi xe quá sang không thể gần gũi với nhân dân được…
 Kể hết câu chuyện này thì ông Nguyễn Văn Mùi lắc đầu mà bảo tôi: Thôi, thôi; tôi mà kể cho anh hết những kỷ niệm về Bác thì phải mất ba ngày; chứ đừng nói đến… ba giờ! Là Nhà báo, chỉ cần anh nhớ một điều: Tôi đã học được ở Bác rất nhiều đức tính; nhất là tính tiết kiệm, giản dị… Đến lúc này, tôi mới chợt giật mình: ở trong căn phòng nhỏ vốn sửa lại từ cái nhà kho của Nhà khách Chính phủ ngày xưa (mà bây giờ hay gọi là “Khu tập thể Văn phòng Chính phủ”) quả có nét gì… “quen quen!”: Đồ đạc hết sức giản dị, đơn giản song vô cùng ngăn nắp, sạch sẽ.  Ông Mùi bảo: kể cả khi mất điện, cần tìm thứ gì, tôi chỉ cần với tay một cái là thấy ngay! Con đi làm, cháu đi học, một tay ông lão vẫn đảm đương việc dọn dẹp nhà cửa, sắp xếp đồ đạc gọn gàng đâu vào đấy. Hết chăm giàn lan lại xoay sang chăm hai bể cá. Hết chăm sóc cho mấy cái lồng chim lại xoay sang tưới tắm cho mấy cây lộc vừng. 84 tuổi, vẫn luôn chân luôn tay. Ông bảo: Bác xưa cũng chẳng lúc nào được nghỉ ngơi; Bác cũng quần quật suốt ngày… Hết đi bảo vệ Bác, rồi lại lái xe cho Bác, 16 năm trời đến lúc Bác mất. 16 năm trời gần gũi, tính cách của Bác như ngấm sang tôi. Anh em phục vụ chúng tôi được Bác coi như ruột thịt trong nhà. Thế nên, chẳng biết trước lúc mất Bác có dặn gì hay không; mà hôm truy điệu, tất cả anh em phục vụ chúng tôi, từ lái xe, cấp dưỡng, bảo vệ… đều được thay nhau đứng trực bên linh cữu Bác như trước một người cha. Cả nhà tôi ơn Bác đúng với nghĩa đen. Hồi cưới xong, vợ tôi ở nhà làm ruộng. Bác biết, Bác bảo tạo điều kiện cho vợ tôi lên “để chú đỡ vất vả”! Thế rồi vợ tôi cũng được lên Hà Nội, sau làm nhân viên phục vụ cho Tổng Bí thư Đỗ Mười, rồi Thủ tướng Võ Văn Kiệt… Hai ông bà đều đã nghỉ hưu từ lâu. Với hai xuất lương hưu hơn 8 triệu đồng mỗi tháng, đủ tằn tiệm cho một cuộc sống an nhàn; song ông bảo: giúp được cháu con ngày nào hay ngày ấy; hơn nữa không làm, không chịu được!
Nói đến đây, thì một lần nữa ông lão Nguyễn Văn Mùi cười lớn: Đấy, tôi đã bảo anh rồi rằng thôi, có kể hết mất 3 ngày chứ đừng nói ba giờ, mà tôi lại… cứ kể… Đấy là chưa nói đến việc sau ngày Bác mất, tôi lại được lái xe cho Bác Tôn Đức Thắng từ năm 1969 đến năm 1980- khi Bác Tôn mất. Thôi nhé, chuyện về Bác Tôn tôi hẹn anh lần sau…
Sau ba giờ, quả thật, phóng viên bản báo lần đầu tiên cảm thấy bối rối và bế tắc trước một nhân vật: Phải là con người thế nào? Phải là một đức tính và cốt cách thế nào, thì mới được tín nhiệm mà trở thành người bảo vệ, người lái xe xuyên suốt cho cả hai đời Nguyên thủ Quốc gia 26 năm trời; trong đó có đến 16 năm vừa làm bảo vệ, vừa làm lái xe cho “Người công dân Số Một”?. Không hẳn vì cả một đời lái xe 30 năm không một lần xẩy ra lỗi! Không hẳn chỉ vì có một đức tính tốt, một vóc dáng cao to hay một võ nghệ cao cường…! Ông Nguyễn Văn Mùi thì bảo: đấy là một mối duyên may! Còn tôi, tôi biết: chỉ có thể là một người có Nhân cách lớn: Nhân-cách-của-người-lái-xe!
Ba giờ và một trang báo, bất lực trước chân dung của ông; tôi đành chỉ biết gọi bằng cái biệt danh mà mọi người đã “mệnh” cho ông: “Người lái xe Số Một”!./.

                                                                                                                  THANH NHUẬN